CUỘC SỐNG LÀ GÌ ? Cuộc sống là gì? một từ ngữ tuy hết sức giản đơn nhưng nó là cả một quá trình dài của cuộc đời con người từ khi sinh ra cho đến khi nhắm mắt. Ai trong chúng ta cũng phải đấu tranh và bảo vệ sự sống, do đó mà cuộc sống muôn màu muôn vẻ đối với mỗi chúng ta. Chúng ta được sống và sống để làm gì, cuộc sống mà không có hạnh phúc thì cuộc sống không có ý nghĩa và giá trị, do đó mà cả đời người chúng ta luôn đi tìm cái hạnh phúc. Tìm trong sự đấu tranh, trong sự kiên trì chịu đựng với những giọt nước mắt đau thương mà chỉ có mình bản thân ta và chỉ riêng mình ta tự lao chùi chứ không ai có thể, kể cả một nữa của mình. Chính vì đi tìm cái cuộc sống hạnh phúc ấy mà đã khiến nhiều người dường như kiệt quỵ, như mòn mỏi và không còn đủ sức chống chọi với hoàn cảnh chỉ vì một mục đích duy nhất là tìm sự bình yên và thanh thản cho riêng mình, nhưng trước bao nhiêu khó khăn dập vùi đó đã để lại trong mỗi chúng ta những ký ức những đau thương mất mát… Để sống đúng và hết với giá trị của cuộc sống thì chúng ta phải hiểu và biết đến cái "đẹp". Đó là cái đẹp mà con người cần và phải nếm trải được, đôi lúc cuộc sống mang đến cho ta nhiều hạnh phúc nhưng nó lại lấy đi biết bao thứ khiến chúng ta phải khốn đốn, hoang mang và dường như sụp đổ. Nhưng để sống và tồn tại thì phải giật mình đứng dậy để tiếp tục, để đấu tranh để đi tới cho hết quảng đường mà tạo hóa đã ban tặng, không có nghĩa ta nhắm mắt mà đi. Nếu cuộc đời của một con người chưa từng nếm vị đắng thì đó chưa gọi là một cuộc đời đẹp, một cuộc sống! Cuộc đời bất luận là dài hay ngắn, đều phải nổ lực để cho cuộc đời này
không có những tiếc nuối. Cuộc đời không tiếc nuối mới là cuộc đời có ý nghĩa.
CUỐN SÁCH VÀ GIỎ ĐỰNG THAN Tại một trang trại ở miền núi xa xôi, miền đông bang Kentucky, có một ông cụ sống với người cháu của mình. Mỗi buổi sáng, ông cụ đều dậy rất sớm để đọc sách. Có những cuốn sách ông đã đọc nhiều lần, đến mức cuốn sách sờn cũ, nhưng lúc nào ông đọc cũng say mê và chưa một buổi sáng nào ông quên đọc sách. Cậu cháu trai cũng bắt chước ông, cũng cố gắng mỗi ngày đều ngồi đọc sách. Rồi một ngày, cậu hỏi ông: - Cháu hãy đem cái giỏ đựng than này ra sông và mang về cho ông một giỏ nước nhé! Cậu bé liền làm theo lời ông, dù rằng tất cả nước đã chảy ra hết khỏi giỏ trước khi cậu bé quay về đến nhà. Nhìn thấy cái giỏ, ông cụ cười và nói: - Nước chảy hết mất rồi! Có lẽ lần sau cháu sẽ phải đi nhanh hơn nữa! Rồi ông bảo cháu quay lại sông lấy một giỏ nước. Lần này cậu bé cố chạy nhanh hơn, nhưng lại một lần nữa, khi cậu về đến nhà thì cái giỏ đã trống rỗng. Thở không ra hơi, cậu nói với ông rằng “đựng nước vào cái giỏ là điều không thể”, rồi đi lấy một chiếc xô để múc nước. Nhưng ông cụ ngăn lại: - Ông không muốn lấy một xô nước. Ông muốn lấy một giỏ nước cơ mà! Cháu có thể làm được đấy, chỉ có điều cháu chưa cố hết sức thôi! Rồi ông lại bảo cháu ra sông lấy nước. Vào lúc này, cậu bé đã biết rằng không thể đựng nước vào giỏ được, nhưng cậu muốn cho ông thấy rằng dù cậu chạy nhanh đến đâu, nước cũng sẽ chảy hết ra khỏi giỏ trước khi cậu về đến nhà. Thế là cậu bé lại lấy nước, lại chạy nhanh hết sức, và khi về đến chỗ ông, cái giỏ lại trống rỗng. - Ông xem này - Cậu bé hụt hơi nói - Thật là vô ích! Cháu lại nghĩ nó là vô ích ư... Ông cụ nói: - Cháu thử nhìn cái giỏ xem! Cậu bé nhìn vào cái giỏ, và lần đầu tiên, cậu bé nhận ra rằng cái giỏ trông khác hẳn ban đầu. Nó không còn là cái giỏ than đen bẩn nữa, mà đã được nước rửa sạch sẽ. - Cháu của ông, đó là những gì diễn ra khi cháu đọc sách. Có thể cháu không hiểu hoặc không nhớ được mọi thứ, nhưng khi cháu đọc, sách sẽ thay đổi cháu từ bên trong tâm hồn, như nước đã làm sạch giỏ than kia vậy.
Bạn đọc bình luận: Một bài viết thật tuyệt vời, có thể bạn hiểu hay không hiểu những gì viết trong đó. Nhưng thực sự những cuốn sách tốt luôn giúp bạn tốt dần lên. Nó giúp bạn ôn hoà, điềm tĩnh và thông minh hơn từng ngày. Câu chuyện làm chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều. Không có sự cố gắng nào là vô ích. Không được cái này nhưng lại có được cái kia. Hãy cố gắng sống hết mình các bạn nhé! ![]() MUỐI Một chàng trai trẻ đến xin học một ông giáo già. Anh ta lúc nào cũng bi quan và phàn nàn về mọi khó khăn. Đối với anh, cuộc sống chỉ có những nỗi buồn, vì thế học tập cũng chẳng hứng thú gì hơn. Một lần khi chàng trai than phiền về việc mình học mãi mà không tiến bộ, người thầy im lặng lắng nghe rồi đưa cho anh một thìa muối thật đầy và một cốc nước nhỏ. - Con cho thìa muối này vào cốc nước và uống thử đi. Lập tức chàng trai làm theo rồi uống thử. - Cốc nước mặn chát. Chàng trai trả lời. Người thầy lại dẫn anh ra một hồ nước gần đó và đổ một thìa muối đầy xuống nước. Bây giờ con hãy nếm thử nước trong hồ đi. - Nước trong hồ vẫn vậy thôi, thưa thầy. Nó chẳng hề mặn lên chút nào. Chàng trai nói khi múc một ít nước dưới hồ và nếm thử. Người thầy chậm rãi nói: "Con của ta, ai cũng có lúc gặp khó khăn trong cuộc sống. Và những khó khăn đó giống như thìa muối này đi. Mỗi người sẽ hoà tan nó theo một cách khác nhau. Những người có tâm hồn rộng mở giống như một hồ nước thì nỗi buồn không làm họ mất đi niềm vui và sự yêu đời. Nhưng với những người tâm hồn chỉ nhỏ như một cốc nước họ sẽ tự biến cuộc sống của mình trở thành đắng chát và chẳng bao giờ học được điều gì có ích". ![]() CÂU CHUYỆN CHÚ LỪA Một ngày nọ, con lừa của một ông chủ trang trại sảy chân rơi xuống giếng. Lừa kêu la tội nghiệp hàng giờ liền. Người chủ trang trại cố nghĩ xem nên làm gì. Cuối cùng ông quyết định: dù sao thì cái giếng cũng cần được lấp lại và con lừa đã già, không ích lợi gì trong việc cứu con lừa lênÔng nhờ vài người hàng xóm sang giúp mình. Họ xúc đất và đổ vào giếng. Con lừa hiểu ngay chuyện gì đang xảy ra và nó kêu la thảm thiết. Nhưng sau đó lừa trở nên im lặng. Sau một vài xẻng đất, ông chủ trang trại nhìn xuống giếng và vô cùng sửng sốt. Mỗi khi bị một xẻng đất đổ lên lưng, lừa lắc mình cho đất rơi xuống và bước chân lên trên. Cứ như vậy, mỗi xẻng đất đổ xuống, lừa lại bước lên cao hơn. Chỉ một lúc sau mọi người nhìn thấy chú lừa xuất hiện trên miệng giếng và lóc cóc chạy ra ngoài.
Cũng vậy, cuộc sống có thể đổ rất nhiều thứ khó chịu lên bạn. Đừng kêu khóc trong tuyệt vọng. Hãy xem mỗi vấn đề bạn gặp phải là một cơ hội để bạn bước lên cao hơn. Chúng ta có thể thoát khỏi cái giếng sâu nhất chỉ đơn giản bằng cách giữ vững niềm tin và đừng bao giờ đầu hàng. ![]() SỰ KIÊN NHẪN Một chàng trai trẻ đến gặp một chuyên gia về đá quý và nói về ước mong được trở thành một nhà nghiên cứu về đá quý. Chuyên gia nọ từ chối vì ông sợ rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn để theo học. Chàng trai cầu xin một cơ hội. Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý và bảo chàng trai: “Ngày mai hãy đến đây”. Sáng hôm sau, vị chuyên gia đặt một hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng hãy cầm nó. Rồi ông tiếp tục công việc của mình: mài đá, cân và phân loại đá quý. Chàng trai ngồi yên lặng và chờ đợi. Buổi sáng tiếp theo, vị chuyên gia lại đặt hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng cầm nó. Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm sau đó vị chuyên gia vẫn lặp lại hành động trên. Đến ngày thứ sáu, chàng trai vẫn cầm hòn ngọc bích nhưng chàng không thể im lặng được nữa. - Thưa thầy - chàng trai hỏi - khi nào thì em sẽ bắt đầu học ạ? - Con sẽ được học - vị chuyên gia trả lời và tiếp tục công việc của mình. Vài ngày nữa lại trôi qua và sự thất vọng của chàng trai càng tăng. Một ngày kia, khi vị chuyên gia bảo chàng trai đưa tay ra, chàng định nói với ông ta rằng chàng chẳng muốn tiếp tục việc này nữa. Nhưng khi vị chuyên gia đặt hòn ngọc bích lên tay chàng trai, chàng nói mà không cần nhìn viên đá: - Đây không phải là hòn đá con vẫn cầm! - Con đã bắt đầu học rồi đấy - vị chuyên gia nói.
Bạn đọc bình luận: Sự kiên trì là cuội nguồn của thành công và nó đến thật bất chợt, không ngờ, thời điểm chính xác khó mà xác định, vì vậy hãy giữ niềm tin bạn nhé! Bạn có thể học được rất nhiều từ thực tế. Và có những việc trở thành thói quen khi bạn có đủ kiên nhẫn để luyện tập, học tập. Điều đó mang lại cho bạn rất nhiều kỹ năng để hoàn thiện mình cũng như nghề nghiệp của mình. ![]() SỰ BÌNH YÊN Một vị vua treo giải thưởng cho nghệ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều họa sĩ đã cố công thể hiện tài năng của mình. Nhà vua ngắm tất cả các bức tranh nhưng chỉ thích có hai bức và ông phải chọn lấy một. Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ vì có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cả những ai ngắm bức tranh này đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn hảo. Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lởm chởm đá. Ở bên trên là bầu trời giận dữ đổ mưa như trút kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xóa. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào. Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang bình thản đậu trên tổ của mình... Bình yên thật sự. "Ta chấm bức tranh này! - Nhà vua công bố - Sự bình yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào, không khó khăn, không cực nhọc. Bình yên có nghĩa ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ý nghĩa thật sự của sự bình yên".
Bạn đọc bình luận: Sự bình yên, quá tuyệt vời rồi, ai cũng mong có được sự bình yên trong cuộc sống. Nhưng dường như mọi người quên mất rằng trong bức tranh kia nếu không có những ngọn núi lởm chởm cùng với một khung cảnh ồn ào và ghê rợn thì làm sao người ta cảm nhận được sự bình yên hàm chứa trong đó, và ngược lại nếu không có sự bình yên thì người ta cũng không thể biết thế nào là giông tố và khổ đau. Tìm thấy sự bình yên trong đau khổ và tìm thấy những những đợt sóng lòng cuồn cuộn trong cái bình yên thường ngày sẽ còn thú vị hơn cả việc chỉ nhìn thấy một phía. Tôi thật khâm phục nhà vua sáng suốt, nhưng tôi còn ngưỡng mộ hơn một hoạ sĩ tài ba đã biết gợi mở cho người khác một triết lý sống tuyệt vời. Có lẽ ông ấy mới là người hiểu rõ nhất thế nào là bình yên và thế nào là bão tố ( ồ, mà tại sao người hoạ sĩ đó cứ nhất thiết là nam giới nhỉ? phụ nữ cũng biết tạo ra bình yên và bão tố đấy chứ). Biết tạo ra bình yên trong bão tố và tạo ra những bão tố trong sự bình yên cho cả mình và cả người khác. Đó có phải là tuyệt vời hơn không? Đã nhiều lần tôi tự hỏi: "Thế nào gọi là bình yên"? Đó là sự thanh thản của tâm hồn, đó là lúc yên tĩnh khi ở 1 mình, hay chỉ là những phút giây thấy mình "không trọng lượng"...Với tôi, chỉ đơn giản là khi bạn thấy lòng mình thật yên ả, khi bạn nghĩ về mọi chuyện và đều thấy thật nhẹ nhàng - thế là đủ. Bình yên, đó là điều mà mỗi người đều cần đến vô cùng trong cuộc sống này!
![]() BỨC TRANH Ngày xưa, có một họa sĩ tên là Ranga, một người siêu việt, vẽ được rất nhiều kiệt tác đáng ghi nhớ khiến ai cũng đều khen ngợi. Ông mở một lớp học mỹ thuật để dạy nghề cho mọi người và cũng để tìm đệ tử nối nghiệp. Ông không mấy khi khen ngợi ai, cũng không bao giờ đề cập đến thời gian của khóa học. Ông nói, một học trò chỉ có thể thành công khi ông hài lòng với kỹ năng và hiểu biết của người đó. Ông truyền cho học trò những phương pháp đánh giá, ước định của ông, và chúng cũng độc đáo như những tác phẩm của ông vậy. Ông không bao giờ thổi phồng tầm quan trọng của những bức tranh hay sự nổi tiếng, mà ông luôn nhấn mạnh đến cách xử sự, thái độ với cuộc sống của học trò.Trong một số lượng lớn học trò, Rajeev là một người có tài nhất, chăm chỉ, sáng tạo, nên anh ta tiếp thu nhanh hơn nhiều so với các bạn đồng môn. Ông Ranga rất hài lòng về Rajeev. Một ngày kia, sau bao nhiêu cố gắng, Rajeev được ông Ranga gọi đến và bảo: - Ta rất tự hào về những tiến bộ mà con đã đạt được. Bây giờ là thời điểm con làm bài thi cuối cùng trước khi ta công nhận con thực sự là một họa sĩ tài năng. Ta muốn con vẽ một bức tranh mà ai cũng phải thấy đẹp, phải khen ngợi. Rajeev làm việc ngày đêm, trong rất nhiều ngày và đem đến trình thầy Ranga một bức tranh tuyệt diệu. Thầy Ranga xem qua rồi bảo: - Con hãy đem bức tranh này ra đặt ở quảng trường chính, để tất cả mọi người có thể chiêm ngưỡng. Hãy viết bên dưới bức tranh là tác giả sẽ rất biết ơn nếu bất kỳ ai có thể chỉ ra bất kỳ sơ suất nào trên bức tranh và đánh một dấu X vào chỗ lỗi đó. Rajeev làm theo lời thầy: đặt bức tranh ở quảng trường lớn với một thông điệp đề nghị mọi người chỉ ra những sơ suất. Sau hai ngày, Ranga đề nghị Rajeev lấy bức tranh về. Rajeev rất thất vọng khi bức tranh của mình đầy dấu X. Nhưng Ranga tỏ ra bình tĩnh và khuyên Rajeev đừng thất vọng, cố gắng lần nữa. Rajeev vẽ một kiệt tác khác, nhưng thầy Ranga bảo phải thay đổi thông điệp dưới bức tranh. Thầy Ranga nói phải để màu vẽ và bút ngay cạnh bức tranh ở quảng trường và đề nghị mọi người tìm những chỗ sai trong bức tranh và sửa chúng lại bằng những dụng cụ để vẽ ấy. Hai ngày sau, khi lấy tranh về, Rajeev rất vui mừng khi thấy bức tranh không bị sửa gì hết và tự tin đem đến chỗ Ranga. Ranga nói: - Con đã thành công vào ngày hôm nay. Bởi vì nếu chỉ thành thạo về mỹ thuật thôi thì chưa đủ, mà con còn phải biết rằng con người bao giờ cũng đánh giá bừa bãi ngay khi có cơ hội đầu tiên, cho dù họ chẳng biết gì về điều đó cả. Nếu con luôn để cả thế giới đánh giá mình, con sẽ luôn thất vọng. Con người thích đánh giá người khác mà không nghĩ đến trách nhiệm hay nghiêm túc gì cả. Mọi người đánh những dấu X lên bức tranh đầu tiên của con vì họ không có trách nhiệm gì mà lại cho đó là việc không cần động não. Nhưng khi con đề nghị họ sửa những sơ suất thì không ai làm nữa, vì họ sợ bộc lộ hiểu biết - những thứ mà họ có thể không có. Nên họ quyết định tránh đi là hơn. Cho nên, những thứ mà con phải vất vả để làm ra được, đừng dễ dàng bị ảnh hưởng bởi đánh giá của người khác. Hãy tự đánh giá mình. Và tất nhiên, cũng đừng bao giờ đánh giá người khác quá dễ dàng.
Bạn đọc bình luận: Đây là một bài học sâu sắc mà khi có chuyện gì đó không hài lòng tôi đã nhớ đến và đã lấy lại được bình tĩnh. Con người ai cũng có thể sống tốt hơn nếu biết cách suy nghĩ, phân tích và đưa ra phán xét thận trọng, hợp lý! ![]() BÀI HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ CON NGƯỜI Ngày xửa ngày xưa, bên Ai Cập có một vị hiền triết tên là Zun-Nun. Ngày kia, một anh thanh niên đến và hỏi ông: “Thưa ngài, tôi không hiểu tại sao những người đáng kính như ngài luôn ăn mặc theo một cách giống nhau và luôn luôn đơn giản như vậy. Chẳng lẽ không cần chưng diện một tí, không phải để khoe khoang, nhưng còn vì mục đích khác nữa chứ, thưa ngài?”. Nhà hiền triết chỉ cười và cởi chiếc nhẫn ở tay ra, trao cho chàng trai và nói: “Này anh bạn trẻ, ta sẽ trả lời câu hỏi của cậu, nhưng trước tiên cậu phải giúp ta việc này đã. Hãy cầm lấy chiếc nhẫn này và đi đến khu chợ bên kia đường, cậu hãy đổi nó lấy một đồng vàng”. Cầm chiếc nhẫn đen đúa của Zun-Nun trên tay, chàng thanh niên tỏ vẻ nghi ngại: “Một đồng vàng? Tôi không chắc là chiếc nhẫn có thể bán được với giá đó”. “Thử trước đã chàng trai, ai biết được điều gì có thể xảy ra?”. Chàng trai trẻ phóng nhanh ra chợ. Anh ta đem chiếc nhẫn vào hàng tơ lụa, rau cải, thịt cá và rất nhiều nơi khác. Nhưng sự thực là không ai đồng ý trả cho anh ta với cái giá đó. Anh ta quay về gặp Zun-Nun và nói: “Thưa ngài, không một ai đồng ý bỏ ra một số tiền nhiều hơn một đồng bạc để mua chiếc nhẫn này cả”. Với một nụ cười nhẹ nhàng trên khuôn mặt trầm tĩnh, nhà hiền triết đáp lời: “Bây giờ anh hãy ra tiệm vàng ở cuối đường, đưa chiếc nhẫn này cho ông chủ. Đừng yêu cầu giá bán nhưng chỉ lắng nghe xem ông ta trả giá bao nhiêu”. Chàng thanh niên đi đến tiệm vàng theo yêu cầu và sau đó quay về với vẻ mặt khác hẳn. Anh ta nói: “Thưa ngài, những lái buôn ở chợ rõ ràng không biết giá trị của chiếc nhẫn này, người chủ tiệm vàng đã đồng ý mua chiếc nhẫn này với giá một ngàn đồng vàng, và giá trị thật của nó thì gấp cả ngàn lần so với cái giá của những con buôn ở chợ”. Zun-Nun mỉm cười và ôn tồn nói: “Đó là câu trả lời cho câu hỏi của anh. Không thể đánh giá con người mà chỉ dựa vào cách ăn mặc bề ngoài. Những lái buôn ở chợ định giá theo kiểu đó. Nhưng những nhà buôn vàng thì không như thế. Vàng và đá quý tồn tại bên trong mỗi con người, chỉ có thể được nhận ra và xác định giá trị nếu anh có thể nhìn thấu tâm hồn. Cần có con tim để nhìn và cả một quá trình dài lâu. Chúng ta không thể ngang nhiên đánh giá người khác mà chỉ dựa vào những lời lẽ và cách cư xử trong một lúc nào đó. Nhiều lúc cái mà ta nghĩ là vàng hóa ra là đồng thau, nhưng thứ ta tưởng là đồng thau thì lại chính là vàng thật". ![]() ĐIỀU GÌ ĐẾN SẼ ĐẾN Có một cậu bé khoác tay nải hồn nhiên bước về phía thị trấn. Cách đây ít ngày, người chú nhắn tin yêu cầu cậu về phụ trông nom một cửa hàng gần trung tâm thị trấn. Đến bìa rừng, sau khi uống vài ngụm suối mát, cậu bé thấy mỏi chân và nghỉ ngơi một chút dưới cây cổ thụ bên đường. Tiếng suối róc rách, chim hót líu lo đã đưa cậu bé vào giấc ngủ ngon lành. Một cô bé xinh xắn làng bên dừng chân ngắm cậu bé và chợt thốt lên: Anh ấy có gương mặt dễ thương đúng như những gì mình đang mơ ước. Phải chi bây giờ anh ấy tỉnh dậy nhỉ! Nhưng cậu bé đang ngủ giấc say, cô gái không thể chờ được đành cất bước đi. Chợt có tiếng chó sủa, hai tên cướp vừa thực hiện xong một phi vụ, chúng chạy về phía cậu bé đang ngủ. Một tên rút dao ra nói với tên còn lại: Chắc chắn thằng nhóc này có cái gì trong đó. Tao sẽ đâm cho nó một nhát và mày giật lấy cái túi của nó. Tiếng chó sủa mỗi lúc một gần hơn, tên kia lo lắng: Thôi, bỏ đi! Chạy kẻo không kịp! Trong thoáng chốc cả hai tên cướp đã biến mất vào cánh rừng già. Cậu bé vẫn ngủ say, không biết chuyện gì đang xảy ra. Một lát sau có tiếng xe ngựa dừng cạnh bờ suối. Bước xuống xe là hai vợ chồng lớn tuổi, dáng vẻ giàu sang. Trông thấy cậu bé đang ngủ có khuôn mặt tuấn tú khôi ngô, họ ước gì có thể nhận cậu về làm con nuôi. Nhưng cậu bé vẫn ngủ say và họ phải khởi hành vì đường về nhà còn xa. Đến trưa cậu bé tỉnh dậy, khoan khoái vốc nước suối rửa mặt và tiếp tục quảy túi bước đi hướng về phía thị trấn mà không hề biết những gì xảy ra trong khi mình đang ngủ. Cậu đã không hề biết một tình yêu đẹp vừa chớm nở, cái chết có lúc kề bên và một cuộc sống giàu sang phú quý đã ghé đến...
Bài học đạo lý: Chuyện xưa kể rằng: có anh chàng học trò lều chõng đi thi, ghé quán bên đường nấu nồi cháo kê, trong khi chờ cháo chín thì ngủ thiếp đi. Anh ta mơ thấy mình đỗ đạt bảng vàng, được áo mão vua ban, làm trạng nguyên về làng vinh quy bái tổ. Khi tỉnh dậy thì nồi kê chưa chín, mới hay mình mộng mị chiêm bao. Câu chuyện của anh chàng học trò là như vậy, còn câu chuyện của cậu bé trên xem ra chẳng có gì liên quan nhau, nhưng hóa ra lại có sự đồng điệu. Cả hai cùng đi trên con đường kiếm tìm hạnh phúc, cả hai cũng có giấc ngủ bên đường, có lẽ cậu bé cũng mơ một giấc mơ đẹp và cái anh chàng học trò trong lúc đang ngủ cũng có những chuyện rủi may kề cận mà anh ta không hề biết. Cuộc sống vốn dĩ có những sự việc đến bất ngờ, có những điều ta biết nhưng cũng có những điều ta không thể biết. Không một nhà tiên tri tài ba nào có thể tiên đoán được hết những gì sắp xảy ra. Vì vậy, "hiện pháp lạc trú" của Đức Thế Tôn dạy cho ta biết trân quý giây phút hiện tại, biết sống thật sâu sắc đừng hoài phí một sát na nào cả. Không có gì phải âu lo bởi vì quá khứ đã qua rồi mà tương lai còn chưa tới, cứ ngồi lo cho cái tương lai chưa hề biết ấy thì thật là vô ích. Chỉ có hiện tại là giây phút nhiệm màu nhất. Chúng ta hãy sống cuộc sống chánh niệm tỉnh thức, để biết những gì đang xảy ra và biết mình phải làm gì thật có ích cho cuộc đời này.
Cuộc sống chúng ta luôn có những điều sẽ đến, và đôi khi chúng xảy ra
đến dường như kề bên chúng ta. Đó có thể là may mắn hoặc bất hạnh, điều lành
hay điều dữ. Và rất may là chúng ta không hề biết tất cả những điều đó. Nếu
không, cuộc sống này sẽ đầy những suy tư, lo lắng, sợ hãi và cả nuối tiếc. Và...
chúng ta sẽ khó mà thanh thản trong công việc, vững bước mạnh dạn vượt qua
những thử thách để đạt được mục đích hay ít nhất là có một giấc ngủ thật bình
an, nhiều mộng đẹp như cậu bé và anh học trò kia.
BA BÀ HOÀNG HẬU Ngày xửa ngày xưa, có một ông vua trẻ. Ðức vua cai trị một vương quốc giàu có, xinh đẹp, nhưng đẹp nhất có lẽ là ba bà hoàng hậu của đức vua. Ba vị hoàng hậu này vừa có sắc lẫn có tài, nên cả ba đều được đức vua sủng ái như nhau, " Mỗi người một vẻ, mười phần vẹn mười". Cho đến một hôm, nhà vua bỗng nảy ra một ý nghĩ:” Trong ba mỹ nhân này thế nào cũng có một người tuyệt diễm hơn hai người kia, nhưng ta không tài nào nhận ra được, có lẽ vì mình nhìn mãi nó quen mắt đi chăng? Hay là ta hỏi ý kiến bọn cung phi vậy". Ðức vua bèn mở cuộc trưng cầu dân ý tại hậu cung để tìm xem trong ba mỹ nhân ai là người đẹp nhất. Kết quả cũng không lấy gì làm sáng sủa cho lắm, vì ai cũng cho rằng cả ba vị hoàng hậu đều đẹp ngang nhau. Kẻ tám lạng, người nửa cân vậy. Nhà vua lại đem nội vụ ra bàn với đình thần. Kết quả cũng tương tợ như trên. Quan tể tướng khuyên đức vua nên dừng cuộc giảo nghiệm lại, vì e nó chẳng ích lợi gì mà đôi khi mang đến hậu họa khó lường được. Thay vì nghe lời khuyên sáng suốt của vị trung thần lão thành ấy thì đức vua của chúng ta lại nổi cơn thịnh nộ, truyền lịnh cho quan tể tướng phải giải quyết cho xong công việc trong vòng ba hôm. Sau một lúc im lặng, quan tể tướng kính cẩn tâu: - Muôn tâu bệ hạ, thần trộm nghĩ rằng, bọn hạ thần chỉ sở trường về chuyện cung kiếm văn thơ, còn chuyện đẹp xấu tướng hảo ra sao thì chắc phải nhường cho các vị bốc sư nổi tiếng. Hay là bệ hạ cho vời y vào, y sẽ phân biệt rõ ràng hơn không? Nhà vua nguôi giận. Một ông thầy bói được lập tức triệu vào cung để chiêm ngưỡng dung nhan ba người đẹp. Vị bốc sư không chịu cho biết kết quả ngay mà xin khất lại ngày hôm sau để về "tra tự điển" lại. Lão bốc sư đi rồi, quan tể tướng bèn tâu nhỏ với đức vua: - Muôn tâu thánh thượng! Hạ thần trộm nghĩ rằng qúi đức bà, mỗi người có một vẽ đẹp riêng, tùy theo nhãn quan và sở thích của từng người. Ý kiến của chúng thần có thể bất đồng nhau, nhưng vì sợ uy quyền của quí đức bà, nên bọn hạ thần không dám nói lên ý kiến của mình mà chỉ kết luận chung chung rằng, cả ba đức bà đều tài sắc như nhau. Nếu thần không lầm thì lão bốc sư này cũng lâm vào một tình thế khó xử như bọn hạ thần, nên lão mới xin khất lại vào ngày mai đó thôi. - Thế thì khanh giải quyết bằng cách nào? - Muôn tâu! Ngu thần có một kế mọn là bệ hạ giả mạo bức thư, ký tên của ba đức bà, hẹn lão ấy đến ba địa điểm riêng. Nếu y đến địa điểm nào thì đức bà ấy sẽ là người đẹp nhất. - Hay lắm, khanh hãy thi hành ngay cho trẩm. Ba bức thư tức tốc được gởi đi và lão bốc sư đi đến chỗ hẹn với bà hoàng đẹp nhất. Ðức vua truyền lệnh chém đầu lão thầy bói ... Và từ đó Ngài đặc biệt sủng ái vị hoàng hậu vào chung kết này. Hai bà hoàng hậu còn lại vô cùng tức tối, họ âm mưu với nhau dùng độc dược giết chết bà hoàng hậu đẹp nhất. Chuyện bại lộ, đức vua truyền lệnh xử tử luôn hai bà hoàng hậu còn lại. Ba vị hoàng hậu xinh đẹp nhất nước đều chết hết, đức vua còn lại một mình để thấy hoàng cung sao mà trống trải lạnh lẽo, bất kể xuân, hạ, thu, đông. Lời bàn: Các bạn thân mến! Vạn pháp trên thế gian này, mỗi pháp đều có một đặc tính riêng, nhưng khi chúng ta bắt đầu "ưu tiên một" cho pháp nào, tức là để tâm vào nó, thì sự việc bắt đầu trở nên rắc rối. Có lẽ vì vậy mà đức Phật thường khuyên chúng ta là hãy để yên cho các pháp trụ ở bản vị của nó. Chớ xen vào phân biệt để tự chuốc khổ cho mình và làm di hoạ cho người chung quanh. Cũng thế, trong cuộc tương giao với bạn bè lân cận, mỗi người bạn của chúng ta đều mang một cái tính riêng biệt, chiếm một vị trí, cách thế khác nhau, chẳng ai giống ai. Và chúng ta cũng khó mà kết luận rằng ai quan trọng hơn ai. Mùa Xuân có hoa lan, mùa Thu có hoa cúc, mỗi loài hoa đều có hương sắc riêng của nó, không thể nào bắt loại hoa này phải bắt chước hoa kia được. Em có thấy rằng số phần rủi ro luôn luôn đến với người mà chúng ta đặc biệt ưu ái hay không? Vậy thì, ta có nên ngu muội đem cái ý thức phân biệt của mình xen vào các mối tương giao ấy, để cảm thấy cuộc đời này sao mà lạnh lẽo bất kể bốn mùa xuân, hạ, thu, đông hay không?
![]() CHIẾC BÌNH CỔ Bà Phú Đạt là chủ hiệu buôn bán vải lớn nhất huyện thời ấy. Bà còn sở hữu một hiệu thuốc đại lý cho “Những nhà thuốc cao đơn hoàn tán” danh tiếng do chồng để lại. Điều quan trọng hơn, có lẽ bà còn là chủ một chiếc bình cổ, mà ai ai cũng cho là vô giá, do một quan năm người Pháp gởi cho chồng bà lúc rút đi về Pháp. Bà Phú Đạt đang ở vào tuổi 30 nhưng có nhan sắc, dù đã có đến 3 con. Sắc đẹp và tài sản quý báu của bà, khiến cho nhiều người đàn ông lui tới, tán tỉnh và cầu xin kết hôn. Sắc đẹp và tài sản, đôi khi cũng là một tai hoạ. Hai năm đầu khi chồng mất, bà thủ tiết, thờ chồng - nuôi con. Ca dao có câu : “Gái khôn, trai phỉnh, lâu buồn cũng xiêu !”, rất đúng với trường hợp của bà Phú Đạt. Bà từ chối nhiều mai mối tốt đẹp, nhưng lại “mắc bẫy” gã đàn ông ở gần nhà. Người đàn ông này có tóc hơi quăn, mũi két. Có vợ 2 con, nhưng đặc biệt nhất là cái miệng của gã. Gã nói nhiều, nói dẻo. Và nói những lời gian dối hay ngọt ngào không chút ngượng ngùng. Bà Phú Đạt có với gã một đứa con trai. Và, từ đó gã bắt đầu di chuyển của cải của bà Phú Đạt. Hết thứ quý di dời, gã bắt đầu moi móc. Nếu gặp sự ngăn trở của bà Phú Đạt hay bà con của bà, gã dung chiếc miệng không xuể, lại dung cả tay và chân ! Gã dung đứa con như một tấm lá chắn. Trong nhiều vật quý đã moi được, có chiếc bình cổ. Vài năm sau, gia cảnh suy sụp, bà Phú Đạt lâm bệnh nặng vì quá buồn rầu ! Bà chết năm 34 tuổi. Mười năm sau nữa, người em thứ 5 của gã đàn ông nọ, vác rựa rượt đuổi ba người anh - trong đó có gã, để đòi “chia gia tài, phải có chiếc bình cổ”. Hai mươi năm tiếp theo, vợ chồng người em thứ 5 lần lượt ra đi : Ông mất vì ung thư dạ dày, bà mất sau gần 2 năm vì sinh đẻ. Đứa con trai trưởng của người em thứ 5 sau khi bán sạch các món đồ quý, đem chiếc bình cổ ra treo giá... Bốn anh em, ba trai một gái, ai cũng đòi phần lấy chiếc bình cổ, hay ít ra, bán chiếc bình chia đều làm 4 phần. Người anh cả không bao giờ chịu nhựợng bộ, vì vợ anh ta luôn nằng nặc đòi hưởng lợi một mình. Kết quả là một cuộc gây gỗ. Đánh chém bằng rựa, dao. Người anh cả bị vết chém vào đầu, chết tức tưởi. Người em trai kế, phải vào bệnh viện vì chấn thương sọ não. Hai người em út, đang chờ ngày ra toà ! Chiễc bình cổ quý vẫn còn trơ trơ như một tai họa khủng khiếp.
![]()
CÂU CHUYỆN ĐỜI Ngày kia, nhà tỷ phú nọ mang cậu con trai duy nhất về nơi thôn dã với ý định để cho con tìm hiểu và so sánh với cuộc sống nghèo nàn của người dân quê. Hai cha con sống hai ngày tại một làng xóm xa xôi nơi mà người ta cho là có đời sống khó khăn. Sau khi trở về nhà, người cha hỏi người con: - " Con thấy cuộc đi chơi ra sao?" - " Cuộc đi thích thú lắm" người con trả lời. - " Con có thấy cuộc sống của người dân quê không?" - " Dạ, có" - " Con nhận thấy gì trong cuộc sống của họ?" - " Con nhận thấy chúng ta chỉ có mỗi một con chó, mà họ thì có tới bốn con. Chúng ta chỉ có một hồ bơi nhỏ ở giữa vườn, còn họ thì có cả một nhánh sông chảy mút mùa. Chúng ta phải nhập cảng những chiếc đèn để treo trong vườn mà họ thì không cần đến vì họ có đầy sao chiếu sáng lúc ban đêm. Tại chỗ ngồi chơi trước nhà, chúng ta chỉ có thể nhìn tới bức tường ở cổng trước mà thôi, còn họ có thể ngồi nhìn xuốt tới tận chân trời. Chúng ta chỉ có một khoảng đất để sống quanh quẩn ở đó, còn họ có cả một khoảng đồng ruộng thẳng cánh cò baỵ Chúng ta phải có người ở để giúp việc chúng ta, còn họ thì không cần, họ tự lo lẫn cho nhau. Chúng ta phải bỏ tiền đi mua đồ ăn, còn họ trồng lấy và tự túc về thực phẩm. Nhà chúng ta phải có tường bao quanh để bảo vệ chúng ta, còn họ thì không cần vì họ có những bạn tốt để đùm bọc lẫn nhau."
Trước những lý luận của người con trai, người cha đã không nói nên lời. Người con nói tiếp: "Con cám ơn cha đã mang con đi du hành để tỏ bày cho con thấy chúng ta đang có một cuộc nghèo nàn như thế nào!"
Lời bàn: Ở đời, chúng ta thường quên đi những gì chúng ta đã có và đang có, mà chỉ nghĩ tới những gì chúng ta không có và chưa có. Những vật không đáng giá của người này chính là những vật mong uớc của người kia. Đời là như vậy! Hạnh phúc sẽ đến, nếu chúng ta biết ghi nhận những an lạc tràn trề chúng ta đang có, thay vì chỉ nghĩ đến mộng uớc muốn có thêm. Hãy tận hưởng những gì chúng ta đang có, nhất là những đồng bào, bạn bè, thân quyến đang có chung quanh ta.
AN HƯỞNG CUỘC ĐỜI Ngày xưa, có vị Hoàng Đế nọ muốn ban trọng ân cho một người cận thần. Nhà vua phán : "Ngươi có công lao rất lớn với ta. Kể từ cổng thành trở đi, ngươi phóng ngựa đi tới nơi nào ngươi dừng lại thì khoảng đất đó ta sẽ ban cho ngươi." Viên cận thần nhảy lên ngựa phóng đi, ra sức phóng ngựa để có được càng nhiều đất càng tốt. Người đó đi suốt ngày đêm, khi mệt và đói cũng không dám ngừng nghỉ vì muốn có nhiều đất. Tới một ngày kia, sức khoẻ kiệt quệ vì đói và mệt, hắn lả đi gần chết ở trong rừng. Hắn lẩm bẩm:" Tại sao ta tham lam quá độ vậy, ta tận sức để có được nhiều đất đai. Bây giờ thì gần chết rồi ta chỉ mong có được một thước đất để được chôn cất mà thôi!" Lời bàn: Câu chuyện cổ kể trên cũng giống như cuộc đời của chúng ta. Hàng ngày, chúng ta gắng sức làm việc để mong có tiền tài, danh vọng và quyền thế. Chúng ta tận sức tới mức sao lãng sức khoẻ, đôi khi quên cả cuộc sống với gia đình, quên cả những cảnh đẹp thiên nhiên. Ngay cả trong những buổi họp bàn bè với danh nghĩa để giải trí, chúng ta vẫn có tư tưởng là sự giao thiệp sẽ có lợi cho việc tạo thêm tiền tài, danh vọng hay thế lực. Rồi một ngày kia nghĩ lại, chúng ta sẽ thấy những sự cố gắng đó vô nghĩa lý. Than ôi! lúc đó thì ta không thể quay ngược kim đồng hồ được nữa, chúng ta đã bỏ mất dịp hưởng an lạc của cuộc đời một cách chân chính. Hãy sống tỉnh thức, để an hưởng cái đẹp của thiên nhiên, để tìm ra lẽ sống của cuộc đời. Cuộc đời rất mong manh, hãy an trú trong hiện tại.
CON BƯỚM Một người nọ tìm thấy một cái kén của con bướm. Anh ta nhận thấy cái kén này bắt đầu được cắn rách, sâu bướm bắt đầu bò ra. Quan sát một hồi lâu, anh thấy con sâu bướm cố hết sức lách thân mình qua lỗ hổng mà không được. Rồi con sâu có vẻ ráng hết sức mà không lọt ra nổi và nằm im như chịu thuạ Động lòng thương, người nọ muốn giúp con sâu bướm, anh ta lấy mũi kéo nhỏ cắt vết rách của cái kén để sâu bướm ta vuợt ra ngoài dễ dàng. Sau khi sâu bướm ra khỏi kén, thì thân hình lớn ra nhưng đôi cánh thì lại nhỏ. Người nọ cố chờ xem con bướm có thể phát triển thêm ra không? mong rằng đôi cánh kia có thể nở rộng thêm để đủ sức bay đỉ Than ôi! vô ích! con bướm đã bị trọn đời tàn tật, lê lết với chiếc cánh nhỏ bé không thể bay đi được. Người nọ vì lòng thương mà hấp tấp làm hỏng cuộc đời con bướm. Anh không biết là luật tạo hóa bắt buộc con sâu bướm phải tự phấn đấu để vượt ra khỏi lỗ nhỏ của cái kén. Trong lúc phấn đấu đó, huyết mạch sẽ được luân lưu từ thân mình cho đến đôi cánh và sau khi vượt ra khỏi chiếc kén, bướm ta mới có đủ sức vuơn đôi cánh lớn ra mà bay bổng.
Lời bàn: Sức phấn đấu cũng rất cần thiết cho đời sống chúng ta vậy. Nếu cuộc đời không có những trở ngại thì chúng ta sẽ bị bại liệt như con bướm kia. Chúng ta không có đủ sức để bay bổng. Trước những thăng trầm thế sự, chúng ta phải có đủ trí phấn đấu ngõ hầu vươn lên trong cuộc sống. Chúng ta sẽ có sức dũng mãnh, vì cuộc đời có những trở ngại khiến chúng ta phải đấu tranh. Chúng ta sẽ có trí tuệ, vì cuộc đời có những vấn đề nan giải khiến chúng ta phải giải quyết. Chúng ta sẽ có can đảm, vì cuộc đời có những chông gai nguy hiểm khiến chúng ta phải vượt quạ Chúng ta sẽ có lòng từ bi, vì cuộc đời có những kẻ bất hạnh để cho chúng ta giúp đỡ. Chúng ta sẽ có thịnh vượng, vì cuộc đời tạo ra những trí óc và bắp thịt khiến chúng ta phải vận dụng. Các bạn có thấy đúng không ?
TẠM THỜI Một vị thầy tâm linh nổi tiếng đến trước cửa lâu đài của vị vua nọ. Vì thầy nổi tiếng rồi, nên các người lính canh không ai chặn ông lại khi ông đi vào và tiến thẳng đến trước mặt nhà vua đang ngồi trên ngai vàng. - Ông muốn gì? nhà vua hỏi. - Tôi muốn có một chỗ để ngủ trong cái quán trọ này. ông ta đáp. - Nhưng đây không phải là quán trọ, đây là tòa lâu đài của ta. Vua trả lời. - Xin hỏi bệ hạ rằng ai là sở hữu tòa lâu đài này trước bệ hạ? - Vua cha ta, Ngài đã chết rồi. - Và ai là sở hữu trước cha của bệ hạ? - Ông nội của ta, Ngài cũng đã chết. - Và cái chỗ này, nơi mà người ta sống một thời gian ngắn rồi dọn đi, như vậy thì nó không phải là quán trọ như bệ hạ nói hay sao?
Lời bàn: 1. Vị thầy muốn cho nhà vua biết tòa lâu đài không phải của ông ấy. Nếu tòa lâu đài tiêu biểu cho sự sống của nó, thì nó thuộc về ai? Sự sống có thuộc về người nào hay không? 2. Sớm hay muộn gì tất cả chúng ta đều phải dọn đi, kể cả đời này và nhiều đời sau nữa! 3. Chuyện này biểu lộ rằng người quyền thế nghĩ là quyền lực của họ thường hằng. Nhưng không có gì trong cuộc đời này là thường hằng. Người như vậy cần được đặt vào vị trí của họ. 4. Chúng ta sống và chết và không bao giờ thực sự sở hữu bất cứ thứ gì. Có mấy người nghĩ sâu xa về điều này. 5. Vật chất và của cải làm cho bạn nghĩ rằng mọi thứ tồn tại vĩnh viễn. Điều đó ngược lại sự nhận biết rằng mọi thứ trên đời này đều vô thường.
NGƯỜI THỢ XÂY CẤT Người thợ mộc già nọ làm việc rất chuyên cần và hữu hiệu lâu năm cho hãng thầu xây cất nọ. Một ngày kia, ông ngỏ ý với hãng muốn xin nghỉ việc về hưu để vui thú với gia đình. Tuy không còn có đồng lương nhưng ông ta muốn nghỉ ngơi để an hưởng tuổi già. Hãng xây cất cũng vô cùng luyến tiếc là sẽ thiếu đi một người thợ giỏi đã tận tụy nhiều năm. Hãng đề nghị với ông cố gắng ở lại giúp hãng xây cất một căn nhà chót truớc khi thôi việc, ông ta nhận lời. Vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông ta làm việc một cách tắc trách qua quít, xây cất căn nhà với những vật liệu tầm thường kém chọn lọc miễn có một bề ngoài đẹp đẽ mà thôi. Mấy tháng sau, khi căn nhà làm xong, ông đuợc ông chủ hãng mời tới, đưa cho ông chiếc chìa khóa của ngôi nhà và nói: “ông đã phục vụ rất tận tụy với hãng nhiều năm, để tưởng thưởng về sự đóng góp của ông cho sự thịnh vượng của hãng, hãng xin tặng ông ngôi nhà vừa xây xong!” Thật là bàng hoàng. Nếu người thợ mộc biết là xây cất căn nhà cho chính mình thì ông ta đã làm việc cẩn thận và chọn lựa những vật liệu có phẩm chất hơn. Sự làm việc tắc trách chỉ có mình ông tự biết và nay thì ông phải sống với căn nhà mà chỉ có riêng ông biết là kém phẩm chất.
Lời bàn: Câu chuyện này cũng giống như chuyện đời của chúng ta. Chúng ta giống như người thợ già kia thường tạo dựng một đời sống hào nhoáng, tạm bợ, đua đòi không chú trọng tới phẩm chất của nó. Nhiều khi ngồi kiểm điểm những sự bê bối của mình trong quá khứ, thì chúng ta thấy mình đang phải cam chịu những hậu quả của nó. Đời là một công trình kiến trúc do chính mình tạo nên. Đời sống hiện tại là kết quả của sự tạo dựng trong quá khứ, đời sống ngày mai sẽ là kết quả của sự tạo dựng hôm nay. Hãy xây dựng đời mình một cách đúng đắn.
ÔNG ẤY CẦN TÔI Cô y tá nọ hướng dẫn một chàng thanh niên với vẻ mặt hốt hoảng âu sầu tới bên giường bệnh của ông già . Cô nói:”ông ơi! Con trai ông đã tới đây này!” Cô phải nhắc lại nhiều bận thì ông già bệnh nhân mới mở mắt ra nhìn. Ông bị ảnh hưởng thuốc mê và cơn đau nên chỉ nhìn thấy lờ mờ người thanh niên đứng bên bình dưỡng khí ở đầu giường. Ông giơ tay quờ quạng nắm lấy bàn tay người thanh niên, xiết chặt, không rời tay ra như cần một sự an ủi. Cô y tá lăng săng mang một chiếc ghế lại gần giường bệnh cho người thanh niên ngồi. Rồi suốt đêm đó, người thanh niên ngồi giữ bàn tay ông già và nói những lời an ủi đầy hứa hẹn. Người bệnh già thì chẳng nói đuợc câu gì , chỉ biết nắm chặt lấy bàn tay người thanh niên. Sáng ngày ra, người bệnh nhân thở hắt ra và chết. Người thanh niên bùi ngùi đặt cái bàn tay bất động nọ xuống bên giường, và đi báo tin cho cô y tá. Trong khi cô ý tá làm thủ tục giấy tờ, người thanh niên tần ngần đứng bên cạnh. Khi cô làm xong thủ tục, cô ngỏ lời chia buồn với chàng thanh niên , thì chàng này hỏi cô rằng:” ông ấy là ai vậy? tên là gì?” Cô y tá ngạc nhiên:”Tôi tưởng ông ta là cha anh?” Chàng thanh niên trả lời:” Không , ông ta không phải là cha tôi, tôi chưa hề gặp ông ta bao giờ, tôi vào thăm người bạn có lẽ cùng họ, nên cô dẫn tôi nhầm tới đây.” Cô y tá kêu lên: “Ổ, thế sao anh không cho tôi biết khi tôi dẫn anh tới đây!” Chàng thanh niên nọ chậm rãi: “Khi tôi được biết ông ta bệnh nặng khó qua khỏi, mà ông ta lại đang mong mỏi sự có mặt người con trai chưa tới được. ông ta đã yếu quá cũng không nhận ra được ai cả, tôi cảm thấy ông ta rất cần tôi, nên tôi ở lại cũng có sao đâu!” Lời bàn: Thật là một tấm lòng quảng đại.
DỄ MÀ KHÓ Ô Sào Thiền sư là một cao tăng Trung Hoa vào đời Đường. Khi sinh Sư ra, bà mẹ không ưng ý lắm nên đem bỏ con vào một chiếc tổ quạ trên cội đại thọ trước hiên chùa rồi lẩn mất. Sư ở chùa từ đó, và người ta gọi sư là thầy Ô Sào ( Ô là quạ, Sào là tổ ), tức là ông thầy có xuất xứ từ một chiếc tổ quạ. Tuổi ấu thơ và tráng niên của Sư trôi qua bình thản trong bóng mát của tòng lâm cổ kính. Sư thường hành thiền trên quê hương của mình, tức là nơi chảng ba có đặt chiếc tổ quạ ngày xưa mà theo năm tháng, cội cây đã to và rộng đủ để sư đặt một chiếc tọa cụ trên ấy. Cho đến khi ngộ đạo và hành đạo, thiền sư vẫn không rời "quê mẹ ". Một hôm, quan Thị lang Bạch Cư Dị, một thi hào lừng danh đương thời, đi dạo ngang cổng chùa, trông thấy nhà sư đang ngồi vắt vẻo trên cành cây. Vốn không ưa hạng người "lánh nợ đời" như thế, ông cau mày hỏi: Bộ hết chỗ rồi hay sao mà thầy lựa chỗ hiểm nghèo như thế để ngồi? Thiền sư bình thản đáp: - Chỗ của tôi xem ra còn vững vàng hơn chỗ của quan lớn đang ngồi nhiều. - Quan Thị lang nhìn lại chiếc kiệu của mình, ngạc nhiên hỏi: - Chỗ tôi đang ngồi có gì đáng ngại đâu? - Thưa, chỗ đại quan là dưới vua, trên các quan và trăm
họ. Vua thương thì quần thần ghét, được lòng dân thì mất lòng vua. Tính mạng
của đại quan cùng thân quyến đều lệ thuộc và lòng yêu ghét của vua và sự tật đố
tị hiềm của bạn bè. Một chiếc ghế được kê trên đầu lưỡi thiên hạ của làm sao bì
với sự cứng chắc của cây cội này được. Có phải thế không, thưa đại quan? Bạch Cư Dị nghe
nhà sư nói chỉ im lặng cúi đầu, giây lâu vị đại quan lão thành mới cất tiếng
hỏi: - Thầy có thể cho tôi biết thế nào là đại ý của Phật Pháp chăng? Thiền sư đáp liền: - Không gì dễ bằng câu hỏi này. Đại quan hãy nghe tôi trả lời đây: "Các điều ác chớ làm, các điều lành vâng giữ, tự thanh lọc ý mình, đó là lời Phật dạy". Bạch Cư Dị nghe xong bảo: - Những điều thầy vừa
đáp, con nít lên ba cũng nói được. Thiền sư mỉm
cười: - Thưa đại quan, con nít lên ba nói được, nhưng ông lão
sáu mươi chưa chắc đã làm xong. Ngài có thấy như thế không? Bạch Cư Dị lại im lặng cúi đầu bái phục. Ông bắt đầu học đạo với sự dẫn dắt của Thiền sư Ô Sào từ đó.
NƯỚC MẮT THIỀN SƯ Có một người trung niên sau khi xuất gia trở thành một vị cao tăng, trụ trì một tu viện cách rất xa gia đình. Rất nhiều người ngưỡng mộ danh đức của Ngài nên đến xuất gia cầu học.
Ngài luôn dạy các đệ tử nên đoạn trừ thế duyên để liễu ngộ chân lý, tinh tấn phát huy trí tuệ, phá trừ ngã chấp, tự độ độ tha. Và Ngài nhấn mạnh chỉ có đoạn trừ tình ái thế gian thì mới có khả năng đạt được giải thoát. Một ngày nọ, từ nơi quê hương xa xôi của ngài truyền đến tin chẳng lành. Đứa con duy nhất của ngài lúc chưa xuất gia đã lâm trọng bệnh qua đời. Các đệ tử sau khi nhận được tin cùng nhau tụ tập lại luận bàn, chẳng biết là có nên báo tin buồn này cho sư phụ biết hay không? Cuối cùng họ đi đến kết luận: Sư phụ đã đoạn trừ thế duyên rồi, đứa con duy nhất đó dù sao thì cũng là người thân của Ngài, nên báo tin không vui này cho Ngài biết. Đồng thời họ cũng nghĩ sư phụ là người đã tu hành đến mức cao như vậy rồi, nếu nghe tin đứa con duy nhất chết thì cũng chỉ thản nhiên thôi. Thế là họ cùng nhau đi đến báo tin này cho Thiền sư. Khi vị cao tăng vừa nghe tin thì mặt buồn rười rượi, hai dòng nước mắt cứ lăn dài xuống má. Các đệ tử vừa nhìn thấy sư phụ có phản ứng như vậy thì cảm thấy rất lạ, họ cũng không ngờ sư phụ qua thời gian dài tu hành như vậy mà cũng chưa đoạn trừ được tình cảm. Trong nhóm đệ tử có một người can đảm đứng ra chắp tay hỏi: - Sư phụ, bình thường sư phụ hay dạy chúng con đoạn trừ thế duyên, cần cầu giải thoát. Sư phụ xuất gia đã lâu vì sao nghe tin con chết lại đau khổ nhiều như vậy, như thế có phải là ngược lại tất cả những gì mà hằng ngày sư phụ vẫn thường dạy chúng con không. Trong đôi mắt đẫm lệ, thiền sư ngước lên nói: - Ta dạy các người đoạn trừ tình cảm thế tục mong cầu thành tựu giải thoát,
chứ không phải dạy các người sống cuộc sống ích kỷ chỉ biết có mình. Đứa con
của ta cũng là một trong những chúng sanh, tất cả chúng sanh cũng giống như con
của ta. Ta vì đứa con của ta mà khóc, cũng là vì nỗi đau của tất cả chúng sanh
trong thế gian mà khóc vậy! Sau khi các đệ tử nghe lời Ngài dạy, trong lòng tràn đầy thương cảm, mở rộng tình thương, tinh tấn tu học, cần cầu giải thoát. (Theo Hoa Linh Thoại, Như Nguyện dịch) Bài học đạo lý:
Ai đó nghĩ rằng, tu hành càng cao thì tình cảm càng héo khô như gỗ đá thì thật sai lầm. Cũng do vậy mà một thiền tăng ngày xưa sau 3 năm tu hành luyện tâm như củi khô, đá lạnh đã bị bà già hộ pháp nổi lửa đốt cốc đuổi đi, vì "vô dụng". Tu hành mà không còn rung cảm trước buồn vui của trần thế thì làm sao mà phát khởi đại nguyện cứu độ chúng sanh. Trước khi trở thành Thánh nhân, chúng ta phải đích thực là một con người. Khi đã trở thành bậc Thánh rồi thì lại càng người và đời hơn. Cho nên, cùng là nước mắt nhưng không bi lụy, riêng tư, đau khổ mà chính là từ bi, yêu thương rộng khắp. Sống trong cuộc đời mà bất nhiễm, xuôi theo dòng đời mà không bị cuốn trôi, song hành với cuộc đời để yêu thương và cứu độ. Đó mới là hành động cao cả và bi mẫn nhất mà không phải người tu hành bình thường nào cũng làm được.
ĐÀO HỐ Hai anh em nọ quyết định đào một cái hố sâu phía sau nhà mình. Trong khi cả hai đang đào, những đứa trẻ khác tập trung lại xem. - Cậu đang làm gì đấy? - một đứa hỏi. - Anh em mình đang đào một cái hố xuyên qua trái đất! - người em tự hào đáp. Những đứa trẻ kia bắt đầu cười, bảo rằng đào hố xuyên qua trái đất là việc không thể thực hiện được. Sau một hồi lâu im lặng không nói gì, người anh nhặt một lọ đầy sâu bọ, giun đất, cùng những hòn đá hình thù kỳ dị. Cậu ta mở nắp ra khoe với bọn trẻ đang cười chế giễu rồi nói đầy tự tin: "Cho dù không đào xuyên qua được Trái đất nhưng hãy nhìn xem những gì chúng tôi có được khi đào nè!". Không phải mục tiêu nào cũng sẽ đạt thành tựu như mong muốn. Không phải mối quan hệ nào cũng tốt đẹp hay bất kỳ niềm hy vọng nào cũng như ý. Chẳng phải cuộc tình nào cũng sẽ tồn tại lâu dài. Không phải mọi cố gắng đều hoàn thành và giấc mơ nào cũng thành hiện thực. Nhưng ngay cả khi thất bại, chúng ta cũng có thể tự hào nói: "Hãy nhìn những điều tuyệt vời xuất hiện trong cuộc sống khi tôi nỗ lực thực hiện công việc của mình". *************************** Ngày xưa, có một cậu bé xấu tính. Gặp chuyện gì cũng cáu gắt, đánh nhau. Thế rối bố cậu đưa cho cậu một túi đinh và bảo cậu cứ mỗi lần cậu mất kiên nhẫn hoặc cãi nhau với ai, thì đóng một cái đinh vào hàng rào. Ngày đầu tiên, cậu đóng 37 cái đinh vào hàng rào. Các tuần sau, cậu biết cách tự kềm chế, nên số đinh đóng vào hàng rào bớt dần ngày qua ngày: cậu đã khám phá ra là tự kềm chế thì dễ hơn là đóng đinh. Cuối cùng, đến một ngày kia, cậu không phải đóng cái đinh nào vào hàng rào nữa. Thế là cậu đi gặp bố và thưa rằng hôm nay cậu không phải đóng cái đinh nào. Ông bố mới bảo cậu là cứ ngày nào cậu không mất kiên nhẫn, thì nhổ một cái đinh khỏi hàng rào. Ngày lại ngày trôi qua, và cuối cùng cậu bé có thể nói với bố là cậu đã nhổ mọi cái đinh khỏi hàng rào. Ông bố dẫn cậu con ra trước hàng rào và bảo: « Con này, con đã xử sự tốt rồi, nhưng con nhìn tất cả các cái lỗ đinh trên hàng rào đi. Hàng rào này sẽ không bao giờ như trước được nữa. Khi con cãi nhau với ai và nói điều gì xấu xa, con đã để lại cho người ấy một vết thương như vết đinh này. Con có thể đâm con dao vào một người rồi rút dao ra, nhưng sẽ mãi mãi còn một vết thương. Con có xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương vẫn còn đó. Một vết thương do lời nói cũng làm đau như một vết thương trên thân thể. Những người bạn là những viên ngọc quý hiếm, họ làm cho con cười và khuyến khích con. Họ sẵn sàng lắng nghe con khi con cần họ, họ nâng đỡ con và mở lòng ra với con. Con hãy cho họ thấy là con yêu thương họ đến đâu!"
Hãy nhớ rằng mỗi hành động và lời nói chúng ta đều bắt nguồn từ lòng nhân ái. ![]()
HOÀI NIỆM VỀ CUỘC SỐNG Lúc bé, thấy mọi người khóc, cứ nghĩ chắc họ đang buồn lắm đây và rất cần sự chia sẻ của những người xung quanh. Giờ mới biết họ khóc được là tự họ đã giải thoát được nỗi buồn cho chính mình. Và buồn nhất vẫn là không thể khóc được. Có thể là vì chúng ta không còn nước mắt để khóc hoặc là nỗi buồn đó không đáng để chúng ta phải khóc. Lý do làm tôi buồn mà vẫn không thể khóc là lý do thứ hai. Tôi đã từng có một tình yêu thật đẹp với một người mà tôi nghĩ là không hoàn hảo, nhưng đối với tôi điều đó không quan trọng, bởi vì chúng ta không ai là hoàn hảo cả. Tôi yêu cái hoàn hảo và cả cái không hoàn hảo của người tôi yêu. Tình yêu của chúng tôi thật đẹp và chúng tôi đã từng mơ đến một tương lai xa, một ngôi nhà nhỏ xinh, những đứa con xinh xắn, nhưng mơ ước vẫn chỉ là ước mơ, dù có đẹp đến đâu thì tất cả cũng sẽ sụp đổ vì trong tình yêu không có chỗ cho sự lừa dối. Tôi đã rất muốn khóc, khóc thật nhiều nhưng không hiểu sao lại không thể. Điều duy nhất đọng lại trong tôi lúc này là tôi đã rất buồn, trống rỗng nhưng lại tỉnh táo một cách lạ thường. Nước mắt của tôi đã không phản bội lại tôi, nó đã không rơi một cách vô nghĩa. Nỗi buồn đầu tiên lớn nhất trong đời tôi là như thế đó, các bạn ạ. Lúc bé, thấy mọi người cười, cứ nghĩ chắc họ đang rất vui và hạnh phúc. Giờ mới biết, trong những nụ cười hạnh phúc đó, còn có những nụ cười xót xa. Tôi đã từng cười rất hạnh phúc khi luôn đứng trong top five của lớp, khi được đi chơi cùng bạn bè, khi mang lại niềm vui cho người khác. Tôi cũng đã từng khóc rất hạnh phúc khi gia đình tôi vượt qua được những thử thách của cuộc đời để tiếp tục cuộc sống, khi tiễn một người bạn ra nước ngoài học vì bạn tôi sẽ lại quay về với một tương lai thật xán lạn, khi một việc làm nhỏ của tôi đem lại niềm tin cho người khác… Nhưng cũng đã từng cười trong xót xa khi vô tình nghe được câu chuyện của một người bạn thân thiết mà mình hết mực tin tưởng với người khác vì nhờ câu chuyện của người bạn ấy mà mình biết mình có nhiều khuyết điểm đến như vậy, và khi tình cờ nhìn thấy người mà mình hết mực yêu thương, tin tưởng tay trong tay với một người quen của mình. Nếu là bạn, bạn sẽ làm gì khi phải đối mặt nhau trong tình huống không mong muốn như vậy... Còn tôi, tôi đã cười với hai người họ và tiếp tục bước đi, và sau đó đã đi ra khỏi cuộc đời của người mà tôi đã hết mực yêu thương, mặc dù người đó đã xin tôi tha thứ rất nhiều. Quan điểm của tôi là “Người ta đã lừa dối mình một lần thì chắc chắn sẽ có lần thứ hai. Thà đau một lần mà thanh thản”. Tôi đã cười trong xót xa như thế đó, các bạn ạ. Lúc bé, tưởng đông bạn là hay, giờ mới biết vẫn chỉ có mình mình. Câu này thì không đúng với tôi lắm. Ngay từ bé tôi đã có rất nhiều bạn, và đến giờ họ vẫn là những người bạn rất tốt của tôi, tuy thỉnh thoảng cũng làm tôi buồn phiền một chút, nhưng chẳng ai là hoàn hảo cả, tôi cũng vậy. Tôi không một mình, bởi tôi vẫn có những người bạn rất tốt ở bên mình. Lúc bé, xem chương trình ti vi, thấy người ta sống ở những nơi hoang vu, hẻo lánh, cứ nghĩ là người ta thật cô đơn. Giờ mới biết thật ra cô đơn rất gần ta, chứ không chỉ tồn tại ở những nơi xa xôi hẻo lánh đó. Tình yêu cũng vậy đó các bạn ạ, nó mang đến cho ta nhiều niềm vui, niềm hạnh phúc, nhưng nỗi buồn và sự cô đơn cũng không ít. Tôi cũng vậy, khi được ở bên người tôi yêu, tôi rất hạnh phúc, tôi có cảm giác như cuộc sống thật quá ưu ái đối với tôi. Nhưng sao tôi vẫn có một cảm giác gì đó rất mong manh, dễ vỡ. Yêu nhau đã khó, giữ được tình yêu đó còn khó hơn. Tôi chẳng biết tình cảm của chúng tôi có đủ lớn để có thể vượt qua tất cả mọi thử thách để tình yêu của chúng tôi đẹp mãi, đẹp mãi như những lúc này không... Thế đấy các bạn ạ, ở bên người tôi yêu nhưng tôi vẫn cảm thấy mình rất cô đơn, vì có những nỗi lòng, những suy nghĩ mà tôi chẳng thể nào chia sẻ được. Lúc bé, tôi còn quá nhỏ để hiểu tình yêu là gì, nhưng tôi cảm nhận được dường như người ta cười nhiều hơn, đẹp hơn khi yêu. Thấy các anh chị vui vẻ cười đùa, tay trong tay nhau cùng dạo phố, cùng nhau chia sẻ những niềm vui, những nỗi buồn và cùng nhau vượt qua những thử thách khó khăn trong cuộc sống, tôi nghĩ họ thật sự là những người hạnh phúc. Tình yêu của họ sẽ chẳng gì có thể chia cắt được và nó sẽ còn đẹp hơn nếu được kết thúc bằng một đám cưới và sống trọn đời bên nhau. Thế nhưng, cuộc sống vốn không trọn vẹn, không phải những người yêu nhau đều đến được với nhau. Vốn dĩ chẳng có gì là hoàn hảo, và tình yêu cũng không ngoại lệ. Cũng như mọi người, tôi cũng đã từng nghĩ tình yêu của tôi và người tôi yêu thật đẹp và sẽ chẳng có lý do gì để chúng tôi phải chia tay. Thế nhưng chúng tôi cũng đã chia tay và tôi cũng kịp nhận ra rằng “tình yêu đẹp thật đấy nhưng chưa phải là tất cả, vì sau tình yêu còn có chia tay”. Thế đấy các bạn ạ, thời gian vẫn trôi, cuộc sống vẫn biến đổi từng ngày, từng giờ. Chúng ta không biết được ngày mai của chúng ta sẽ như thế nào nên chúng ta hãy cứ sống thật tốt cho ngày hôm nay, để không bao giờ phải thốt lên hai chữ “Giá mà…”. Hãy cứ sống hết mình cho công việc, cho gia đình, cho bạn bè và cho tình yêu, rồi bạn sẽ nhận được niềm vui và hạnh phúc…
CÀ RỐT, TRỨNG VÀ CÀ PHÊMột cô gái trẻ nói với mẹ của mình rằng cuộc sống thật khó khăn. Cô không biết sẽ tiếp tục như thế nào. Cô muốn buông xuôi vì đã quá mệt mỏi khi mãi phải đấu tranh.Mẹ cô gái sau khi nghe con nói bèn đưa cô vào bếp. Bà đổ đầy nước vào ba cái bình và đặt chúng lên trên ngọn lửa. Chẳng mấy chốc ba bình nước sôi.Trong chiếc bình đầu tiên, bà đặt vào những củ cà rốt.Trong chiếc thứ hai bà đặt những quả trứng,Và trong chiếc cuối cùng bà đặt những hột cà phê nghiền.Sau đó bà tiếp tục nấu sôi ba chiếc bình, và không nói một lời nào.Khoảng 20 phút sau, bà tắt lửa. Bà vớt những củ cà rốt ra và đặt chúng vào một cái bát. Bà lấy những quả trứng ra và đặt vào một cái bát khác. Bà lại lấy muôi múc cà phê ra và đặt vào cái bát thứ ba. Quay sang cô con gái, bà hỏi:- “Nào, con hãy nói cho mẹ biết, con nhìn thấy gì?”- “Dạ, cà rốt, trứng và cà phê”. Cô con gái trả lời rồi hỏi: “Mẹ, điều đó có nghĩa là gì?”.Bà mẹ giải thích rằng mỗi một thứ trong đó đã gặp điều kiện khó khăn như nhau, đó là nước sôi. Mỗi thứ có phản ứng khác nhau:Cà rốt khi chưa bỏ vào nước thì cứng, rắn và dai. Tuy nhiên, sau khi bị bỏ vào nước sôi, nó mềm đi và trở nên yếu ớt.Quả trứng vốn rất dễ vỡ. Lớp vỏ ngoài mỏng manh của nó đã bảo vệ lớp chất lỏng bên trong nó, nhưng sau khi được đặt vào trong nước sôi, phần bên trong quả trứng cứng lại.Những hột cà phê nghiền thì khác. Sau khi bị bỏ vào nước sôi, chúng đã biến đổi nước.“Con là gì?” - bà mẹ hỏi cô con gái. “Khi một hoàn cảnh bất lợi gõ cửa nhà con, con sẽ phản ứng thế nào? Con là củ cà rốt, quả trứng hay hột cà phê?”.Người mẹ giải thích tỉ mỉ cho cô con gái: “Con là củ cà rốt, dường như rất mạnh mẽ, nhưng khi bị đau và gặp hoàn cảnh bất lợi, con yếu mềm và mất đi sức mạnh?Hay con là quả trứng bắt đầu với một trái tim mềm yếu nhưng qua khó khăn lại trở nên cứng rắn? Một số người dễ bị lung lay tinh thần, nhưng sau một cái chết, sự chia ly, những khó khăn về tài chính, họ trở nên cứng nhắc, mặc dù cái vỏ bên ngoài vẫn thế.Hoặc có thể con giống cà phê. Cà phê thực sự làm thay đổi nước nóng, chính là thay đổi hoàn cảnh mang lại nỗi đau. Khi nước bị nóng, cà phê tỏa ra hương vị của nó. Nếu con giống như cà phê, con sẽ sống tốt đẹp hơn và có thể thay đổi tình thế xung quanh con, khi mọi thứ đang trở nên tồi tệ nhất.Trước những ngày tháng đen tối nhất và trước những thử thách, cam go nhất, con sẽ nâng bản thân mình lên một tầm cao mới. Sau này khi con gặp hoàn cảnh bất lợi, hãy nhớ tự hỏi mình: “Tôi sẽ là một củ cà rốt, một quả trứng hay là cà phê?”.******
Cầu mong bạn có đủ niềm vui để làm cho cuộc sống của mình thật ngọt ngào, có đủ thử thách để khiến bạn mạnh mẽ, có đủ đau thương để sống có tình người và có đủ hy vọng để hạnh phúc.Người hạnh phúc nhất không nhất thiết phải có tất cả mọi thứ tốt đẹp nhất; họ chỉ hoàn thành hầu hết tất cả những gì xuất hiện trên con đường đời của họ.Tương lai tươi sáng nhất sẽ luôn dựa trên một quá khứ bị lãng quên. Bạn không thể tiếp bước trong cuộc sống nếu như chưa vượt qua những thất bại và nỗi đau trong quá khứ.Khi bạn được sinh ra, bạn khóc và mọi người quanh bạn mỉm cười. Hãy sống cuộc sống của bạn để đến ngày cuối cuộc đời, bạn là người mỉm cười còn mọi người quanh bạn khóc.![]() BA CÂU TRẢ LỜI MẦU NHIỆM Ðó là chuyện 3 câu hỏi khó của một nhà vua, do nhà văn hào Leo Tolstoy kể lại. Nhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm, đức vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được 3 câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. 3 câu hỏi ấy là: 1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc? 2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng? 3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?
Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó. Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau.
Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng: · Muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. · Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xảy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết. · Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một “hội đồng nhân sĩ ” và hành động theo lời khuyến cáo của họ. · Lại có kẻ nói rằng: có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xảy ra. Do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn, tiên tri. Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. · Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. · Có người nói là mấy ông Giám Mục, Thượng Tọa là quan hệ hơn hết. · Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết.
Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau: · Có người nói khoa học là quan trọng nhất. · Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. · Có người lại nói: chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất.
Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết. Sau nhiều đêm suy nghĩ, vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm phải lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia. Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, vua trèo lên am của ông đạo.
Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển. Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc ? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả ? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên ?" Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vòng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc". Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo: "Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà". Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ. Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy. Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt: "Xin bệ hạ tha tội cho thần". "Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha ?" "Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ, hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa". "Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về. Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn này nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần". Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh. Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà". Vua hỏi: "trả lời bao giờ đâu nào ?" "Hôm qua nếu vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ổng thì ổng sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: "chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống.”
Tolstoy là một vị Bồ Tát trong câu chuyện trên. Nhà văn hóa này đã thấy được ý nghĩa của cuộc sống và phương thức sống. Làm thế nào để ta sống giờ phút hiện tại, sống ngay với người ta chung đụng hàng ngày, làm ngay điều có thể giúp họ bớt khổ đau, thêm hạnh phúc. Làm thế nào ? Câu trả lời là: phải thực tập chánh niệm. Nguyên tắc của Tolstoy nêu ra đó, xem như là dễ, nhưng muốn thực hiện nghiêm chỉnh phải nhờ những phương pháp quán niệm cụ thể mà ta tìm thấy nơi đạo Phật. ( Trích từ Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức - Thích Nhất Hạnh )
TRỞ THÀNH MỘT VIÊN NGỌC QUÝ Có một người thanh niên tự cho mình là kẻ toàn tài. Sau khi tốt nghiệp, nhiều lần bị thất bại, mãi vẫn không tìm được việc làm lý tưởng. Anh ta cảm thấy mình có tài mà không gặp thời, nên rất thất vọng về xã hội, anh ta cảm thấy đó là vì không có Bá Nhạc đến thưởng thức “con ngựa giỏi” này. Trong lúc đau khổ tuyệt vọng, anh ta đi đến bờ biển, định kết thúc cuộc đời của mình tại đây. Lúc anh ta sắp tự sát, vừa may có một Thiền giả đi ngang qua cứu anh ta. Thiền giả hỏi anh ta vì sao lại phải đi đến đường cùng như vậy? Anh ta nói bản thân không được mọi người và xã hội thừa nhận, không có ai khen ngợi và trọng dụng anh ta cả. Thiền giả nhặt một hạt cát trên bãi biển dưới chân lên, đưa cho người thanh niên xem, sau đó tuỳ tiện rải xuống đất, nói với người thanh niên: “Anh hãy nhặt hạt cát tôi vừa rải xuống đất lên đi”. “Điều này vốn không thể được mà!” Người thanh niên nói. Thiền giả không nói gì, tiếp tục lấy một viên trân châu lấp lánh trong suốt từ trong túi của mình ra, cũng tuỳ tiện ném xuống đất rồi bảo người thanh niên: “Anh có thể nhặt viên trân châu này lên không?” Người thanh niên trả lời: “Điều này đương nhiên là được!” “Vậy anh nên hiểu là vì sao rồi chứ? Anh nên biết, hiện nay mình vẫn chưa phải là viên trân châu, cho nên anh vẫn không thể yêu cầu quá nghiêm khắc rằng phải lập tức thừa nhận anh. Nếu muốn người khác thừa nhận, thì anh phải từ hạt cát biến thành hạt trân châu mới được”. Thiền giả nói: “Có lúc phải nên biết bản thân của bạn là một hạt cát bình thường chứ không phải một chuỗi trân châu giá trị. Thực ra, nếu muốn làm cho bản thân trở nên giỏi dang xuất chúng, thì bạn phải nỗ lực làm cho bạn trở thành một viên trân châu!” Liên Hải dịch ![]() TRI ÂN NÊN BÁO ÂN Một thiền giả ở Kim Phật Sơn Trùng Khánh kể một câu chuyện khiến người tỉnh ngộ. Cuối tháng bảy năm nọ, ông Vương người miền núi đang cắt thuốc ở trong thôn. Đột nhiên, một vật tròn đen ngòm từ trên cây rơi xuống. Ông ta đang muốn chạy đi, đột nhiên một cánh tay trong vật đen thò ra kéo chân ông Vương. Ông Vương cúi đầu nhìn, một con khỉ đen khoảng hai tuổi đáng thương đang nhìn ông, tay trái của nó đang chảy máu. Ông Vương chẳng nói lời nào, ôm con khỉ đen vào nhà rửa vết thương cho nó, đắp thuốc lên. Một tuần sau, vết thương của con khỉ đã lành, ông Vương mở dây buộc cho nó, nhưng con khỉ không muốn đi. Suốt ngày nó quanh quẩn trong nhà, thậm chí còn làm việc giúp. Sống trong nhà ông Vương hơn một tháng, vào một buổi sáng, con khỉ lặng lẽ ra đi. Vào lúc gần ba giờ sáng một ngày cuối tháng chín, ông Vương đang chìm trong giấc ngủ ở trang trại, đột nhiên một loạt tiếng gõ cửa mạnh cùng tiếng kêu thảm thiết làm ông Vương tỉnh giấc. Ông Vương chạy ra cửa xem, thấy con khỉ đen trở lại! Chỉ thấy con khỉ dùng tay chỉ ngọn núi phía sau, ông Vương quay đầu nhìn lại. Trời ạ! tảng đá lớn trên núi không ngừng lăn xuống. con khỉ duỗi dài cánh tay, dùng hết sức kéo ông Vương đi nhanh. Ông Vương chạy về nhà lay vợ dậy, dắt theo con gái, chạy ra khỏi nhà. Tiếp đó lại gọi cửa từng nhà, năm gia đình trong thôn tất cả hơn 20 người vừa chạy ra khỏi nhà, tảng đá lớn đã lăn xuống đè bẹp thôn trang. Nhiều người trang thôn đã khóc, nguy hiểm quá! Nếu không có con khỉ cứu người, chúng ta đều chết hết rồi! Kể xong câu chuyên, Thiền sư nói: “Tri ân, báo ân, con khỉ còn biết rõ như thế, ấy vậy mà chúng ta còn có người lại không làm được việc đó”.
![]() CHỮA BỆNH TRƯỚC PHẢI CHỮA TÂM Có một thanh niên đã hơn ba mươi tuổi, thân hình gầy đét sắc mặt lại hôn ám, đến hỏi Thiền sư Diệu Pháp: “Thưa Thiền sư! Ba năm trước con mắc một thứ bệnh, đầu tiên đau đầu, sau lại phát ra đau đớn toàn thân, chẳng nói rõ được đau bộ phận nào, tiêm thuốc, uống thuốc cũng chẳng thấy kết quả gì, con đã thối chí nản lòng. Nếu Ngài có thể trị lành bịnh cho con, cần bao nhiêu tiền con cũng chịu”. Thiền sư Diệu Pháp nói: “Ta không phải là bác sĩ, không biết khám bịnh, càng không dám lấy tiền của ông, ông đi mời một vị cao minh khác đi!” Người kia giận dỗi nói: “Vì sao Ngài khám bệnh cho người khác mà không khám bệnh cho con? Lại còn đuổi con đi, con có đắc tội gì với Ngài đâu?” Sư phụ vẫn thản nhiên nói: “Ngay cả bố mẹ nuôi, ngươi còn dám đánh chửi, mà còn sợ đắc tội với ta sao?” Lập tức người đó như quả bóng xì hơi, đờ đẫn ngồi trên ghế, ánh mắt hốt hoảng, sắc mặt trắng nhợt, lo lắng hỏi: “Làm sao Ngài biết được việc của con vậy, ở đây không có ai biết con cả mà?” Sư phụ nói: “Không cần người khác nói cho ta, trước ngực ngươi đã viết rõ ràng bốn chữ lớn: ngỗ nghịch bất hiếu” Người kia điếng người, theo bản năng cúi xuống nhìn trước ngực, nhưng không phát hiện ra gì cả. Đột nhiên, anh ta đứng dậy, bước lên mấy bước quỳ dưới chân Thiền sư Diệu Pháp, cố gắng ngẩng đầu lên, giọng run run cầu xin: “Con nhất định sửa đổi những tội lỗi trước, làm lại cuộc đời!” Thiền sư Diệu Pháp bảo một vị tăng trẻ tuổi rằng: “Con dẫn anh ta đến đại điện, chỉ cho anh ta cách lễ Phật sám hối, bảo anh ta rập đầu một ngàn cái trên đại điện, xong rồi trở xuống đây”. Một giờ đồng hồ sau, người kia trở lại đảnh lễ Sư phụ, thì tinh thần đã sảng khoái, trở thành một người khác hẳn. Liên Hải dịch ![]() ĐẸP VÀ XẤU Một hôm, thầy Dương Chu đi qua nước Tống trú tạm ở một khách điếm. Ông chủ điếm có hai bà vợ. Một bà rất đẹp và một bà rất xấu. Thế nhưng bà xấu được chồng yêu quý hơn. Dương Chu hỏi duyên cớ, ông chủ đáp: - Người đẹp tự cho mình đẹp, tôi chẳng thấy đẹp chỗ nào. - Còn người xấu tự cho mình là xấu, tôi chẳng thấy xấu chút nào. Dương Chu quay lại nói với đệ tử: - Các con thấy đó, mình làm được việc tốt, chớ nên khoe mình là tốt, thì đến nơi nào lại không được người ta yêu quý?
Lời bàn: Thường tâm lý người thích khoe những gì mình đắc ý hơn người: Khoe giàu, khoe giỏi, khoe đẹp... đó là nguyên cớ để gây bất mãn cho những người xung quanh. Những cái đắc thế, đắc vị đó cũng giống như nhụy hoa, đến lúc khai hương mới toát, nhụy mới lộ ra, và người ta mới chú ý đến. Hoa không thể cưỡng khai được. Cũng như cái tài, cái đẹp, cái giàu tự mình phơi bày ra tất phải có tác dụng ngược. Tục ngữ có câu: "Cái nết đánh chết cái đẹp". Đơn giản như thế nhưng không phải ai cũng áp dụng được nó. ( Trích từ “Thuật xử thế của người xưa của Thu Giang Nguyễn Duy Cần” )
NHÂN VÀ TRÍ Thầy trò Khổng Tử bỏ nước Lỗ lưu vong ra nước ngoài. Một hôm Khổng Tử gọi Tử Cống ( một trong 72 học trò hiền của Khổng Tử ) hỏi: - Theo con, thế nào là người nhân, thế nào là người trí? Tử Cống suy nghĩ một lát rồi đáp: - Thưa thầy, người nhân là người biết thương người; người trí là người hiểu người. Khổng Tử khen "hay". Rồi kêu Tăng Tử vào hỏi lại câu trên. Tăng Tử suy nghĩ một hồi rồi đáp: - Thưa thầy, người nhân là người biết thương mình; người trí là người tự biết mình. Khổng Tử chịu quá! Đoạn ông gọi Tử Lộ vào hỏi: - Theo con, thế nào là người nhân, thế nào là người trí? Tử Lộ thưa: - Theo con, người nhân là người làm sao cho người khác thương được mình; còn người trí là người làm sao cho người khác hiểu được mình!... Khổng Tử rất đỗi ngạc nhiên, ngửa mặt khen rằng: - Bất ngờ thay!... Lời bàn: Cùng một cân hỏi nhưng ba câu trả lời hoàn toàn khác nhau, đây thật là điều thú vị và bất ngờ. Nhưng ta thường thấy việc đời không khác nào một dòng sông, có lúc từ trên cao đổ ào ào xuống vực sâu, có lúc trườn mình, len lách qua hẻm núi, có lúc thênh thang lặng tờ giữa bình nguyên...thiên hình vạn trạng. Nhưng mỗi dạng trạng đều phù hợp với mỗi hoàn cảnh. Bởi không bao giờ trời mưa lụt mà sông cạn, trời nắng hạn mà nước sông dâng. Núi dựng bạt ngàn dòng sông không thể không uốn mình lượn theo thế núi. Con người cũng thế. Có lúc ta vì người và người vì ta, có lúc ta vì ta, và người vì người, theo hoàn cảnh mà hành sự. Như thế mới không lỗi. Trong toán học cũng có những vấn đề như trong nhân sinh. Trước đây 2300 năm, nhà Toán học Hi Lạp, Eulide phát biểu: - "Từ một điểm ngoài đường thẳng, ta chỉ vẽ được một và chỉ một đường thẳng song song với đường thẳng đã cho"! Ai muốn học toán lên cao bắt buộc phải chấp nhận lời yêu cầu này. Vì đây là một điều hiển nhiên. Thế mà ở Anh, Remann lại phát biểu: - "Từ một điểm ngoài đường thẳng, ta không vẽ được một đường thẳng nào song song với đường thẳng cho trước"! Chưa hết! Sau đó nhà toán học Laubatchewsky lại phát biểu: - "Từ một điểm nằm ngoài đường thẳng, ta có thể vẽ được vô số đường thẳng song song với đường thẳng cho trước"! Thế có trái ngược không? Hai định đề sau đây phải là sai (vì sai đâu là định đề), ở toán cao cấp người ta vẫn dùng nó. Tất nhiên muốn dùng nó phải tùy theo điều kiện. Người ta thường nói, "chân lý ở bên này Pyrréneés, sang bên kia trở thành nghịch lý". Đúng hay không đúng còn tùy theo hoàn cảnh. Qua câu hỏi nhân trí của Khổng Tử, Ngũ Tử Tư ở nước Ngô ( người cùng thời với Khổng Tử ) nói: - Không thương mình làm sao thương được người ngoài? Không thương người làm sao người thương ta? Môn đồ của Khổng Tử chỉ "chẻ tư sợi tóc nhân nghĩa" ( ý nói phiếm diện ) mà thôi! Nhân và trí ít nhiều gì vốn đã có sẵn trong mỗi người, chỉ sử dụng có hợp lúc không thôi! Do đó bất kỳ việc gì, đúng hay sai, công hay tội chúng ta khó mà đem nhận xét chủ quan ra để phán xét được. Bởi việc hành xử của tha nhân còn tùy thuộc hoàn cảnh của họ lúc đó. ( Trích từ “Thuật xử thế của người xưa" của Thu Giang Nguyễn Duy Cần). ![]() TRÍ TUỆ KHỔNG TỬ VỀ CÁCH ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHÁCKhổng Tử đã chỉ ra rằng lòng tốt là gồm cả hai: một tư tưởng chính trị và một tiêu chuẩn đạo đức. Lòng tốt nhấn mạnh việc chăm lo cho người khác và chú trọng tư tưởng về lòng trung thành và sự khoan dung tha thứ. Một tư tưởng như vậy đã có một ảnh hưởng sâu rộng đến đạo đức truyền thống Trung Hoa về lương thiện, trung thực, nhẫn nại và khoan dung. Nó vẫn có ý nghĩa sâu sắc trong xã hội ngày nay. Lòng chân thành, chân thật là cơ sở nền tảng đầu tiên quan trọng nhất Một lần khi Khổng Tử đang thảo luận cách đối nhân xử thế với những học trò của ông. Tử Lộ nói: “Nếu người khác đối xử tốt với con, đổi lại con cũng sẽ đối xử tốt với họ; Nếu họ không tốt với con, con cũng sẽ không tốt với họ.” Khổng Tử đã luận: “Đây là cách xử thế của những người không tốt.” Tử Cống nói: ” Nếu người khác đối xử tốt với con, con sẽ đáp lại tốt với họ; Nếu họ không tốt với con, con sẽ hướng dẫn họ đến cái tốt.” Khổng Tử đã luận: “Đây là cách xử thế giữa những người bạn.” Nhan Tử nói: “Nếu người khác đối xử tốt với con, con sẽ tốt với họ; Nếu họ không tốt với con, con cũng sẽ tốt với họ và dẫn họ đến cái tốt.” Khổng Tử đã luận: “Đây là cách xử thế trong gia đình và người thân. Nếu các con có thể mở rộng tư tưởng và đối xử với tất cả mọi người trong thế giới này bằng lòng chân thành, thành thật, nó sẽ thực sự tốt!” Đối xử với người khác bằng lòng tốt lương thiện Nhan Tử đã hỏi Khổng Tử: “Làm sao con có thể đạt được mục tiêu đối xử với người khác bằng lòng tốt? con mong ước con có thể làm được việc đối xử với mọi người như nhau bất kể họ giàu hay nghèo; can đảm mà không hiển thị khoe khoang mình dũng cảm; làm bạn chỉ với những người có mục đích cao quý và tránh gian khổ suốt cuộc đời. Điều đó có đúng không?” Khổng Tử nói: ” Để là người tốt, một người cần phải tu thân và liên tục nâng cao đạo đức bản thân. Điều mà con nói là tốt. Đối xử như nhau cho dù họ giàu hay nghèo, con sẽ thấy hài lòng và không bị điều khiển bởi ham muốn dục vọng. Hành xử như nhau bất kể con ở địa vị cao hay là người dân bình thường, con sẽ luôn luôn khiêm tốn và lịch sự. Can đảm mà không hiển thị khoe khoang lòng dũng cảm, con sẽ đối xử với mọi người bằng lòng kính trọng. Làm bạn với những người có mục đích cao quý và tránh gian khổ suốt cuộc đời, con có thể lựa chọn những người bạn của mình, con sẽ thận trọng trong lời nói và hành động mình. Đây là một mục đích rất tốt!” Cách cai trị: Qi Gaoting đã hỏi Khổng Tử: “con đã đi một đoạn đường dài và đã trải qua nhiều khó khăn thử thách, mặc quần áo sờn rách và mang quà đến cho thầy, con đến với hy vọng rằng thầy có thể dạy con cách phò tá hoàng đế cai trị đất nước.” Khổng Tử đã nói: “Hãy dựa vào những nguyên tắc luân lý đạo đức và công bằng, ngay cả khi xúc phạm đến hoàng đế, con cũng không thể từ bỏ sự chính trực và những nguyên tắc đạo đức. Phò tá hoàng đế không có nghĩa là làm mọi việc cho hoàng đế, mà là làm việc cho đất nước và cho người dân dưới sự cai trị của hoàng đế. Tóm lại, là làm những việc chân chính và phò tá hoàng đế truyền bá lòng tốt lương thiện. Con cần phải đối xử với mọi người bằng lòng chân thành. Con cần phải làm một tấm gương tốt và ngay thẳng công bằng. Tiến cử những người có khả năng với hoàng đế, đồng thời loại đi những kẻ xấu xa; loại bỏ phần xấu ra khỏi bản thân con và cùng với hoàng đế sống theo luật pháp và chuẩn mực đạo đức. Con cần phải thông minh nhưng cẩn thận trong lời nói và hành động; tu thân và dẫn dắt người dân sống theo lòng tốt lương thiện. Nếu con có thể làm như vậy, con có thể giống như một đạo hữu bên cạnh hoàng đế ngay cả khi con ở cách xa ông ấy ngàn dặm. Nếu không, con không thể làm được điều đó ngay cả khi con ở ngay bên cạnh ông ta.” Khổng Tử nói rằng: một người cần phải tu thân để đối xử tốt với người khác. Đối xử với người khác không phải là mục đích, mà mục đích là thăng tiến bản thân đến một tầng cao hơn. Khổng Tử xem trung, nghĩa, trí và tín là những điều kiện tiên quyết để là một người cao quý. Một người cao quý có thể đạt đến “từ bi” qua tự phê bình và đối xử với người khác bằng lòng tốt và khoan dung. Một người cao quý sẽ duy trì đạo đức cao trong bất kể tình huống nào và sẽ giữ tâm anh ta trong sạch, đối xử tốt với mọi người và trân quý sinh mệnh. Cho dù họ giàu hay nghèo, anh ta sẽ không bị dao động. Quyền lực và sự ép buộc cũng không ảnh hưởng anh ta được.
HẠNH PHÚC Ở ĐÂU ? Một ngày kia, đám yêu tinh họp nhau lại để tìm cách phá hoại cuộc sống của loài người. Yêu tinh đầu đàn lên tiếng: “Với loài người, hạnh phúc là thứ quí giá nhất. Vậy chúng ta hãy đánh cắp thứ quí giá nhất của họ và giấu ở nơi mà họ không thể tìm thấy được. Các ngươi thấy sao?”. Một yêu tinh lên tiếng: “Hãy đem hạnh phúc giấu trên đỉnh núi cao nhất trên trái đất này, chắc con người sẽ không thể tìm ra”. Yêu tinh đầu đàn lắc đầu: “Rồi một ngày họ cũng sẽ tìm cách chinh phục đỉnh núi cao nhất ấy”. “Vậy hãy giấu hạnh phúc dưới đáy đại dương sâu thẳm...” - một yêu tinh khác nói. “Rồi một ngày họ cũng thám hiểm đến đáy đại dương sâu thẳm nhờ những phương tiện hiện đại”, yêu tinh đầu đàn lại lắc đầu. “Mang giấu ở một hành tinh khác vậy”, một tiểu yêu tinh đề nghị. “Con người đang tìm cách khám phá vũ trụ và các hành tinh khác”, yêu tinh đầu đàn ngao ngán. “Có một sự thật: con người hay tìm kiếm hạnh phúc khắp mọi nơi; nhìn thấy hạnh phúc nơi người khác nhưng thường không nhìn thấy hạnh phúc chính ở bản thân mình. Vậy ta hãy giấu hạnh phúc trong mỗi con người, chắc chắn họ sẽ không thể nào tìm thấy được...”, một yêu tinh chậm rãi nói. Cả đám yêu tinh reo lên sung sướng và quyết định làm theo lời đề nghị trên. Liệu hạnh phúc của con người có bị đám yêu tinh kia giấu mất? Câu trả lời tùy thuộc chính bản thân chúng ta trong quá trình tìm kiếm hạnh phúc cho mình... Bình luận: Bài viết tuy đơn giản nhưng chứa đựng câu trả lời cho câu hỏi mà hầu như ai trong chúng ta cũng đang đi tìm kiếm: Hạnh phúc ở đâu? Câu trả lời: Hạnh phúc ở trong chính bản thân mỗi chúng ta! Hạnh phúc của ta không phải nằm ở nơi người khác. Người khác không thể làm cho ta hạnh phúc hay đau khổ. Chính cảm nhận của ta về hành động của người khác sẽ làm cho ta hạnh phúc hay đau khổ.Hạnh phúc của ta không phải nằm ở hoàn cảnh bên ngoài. Hoàn cảnh bên ngoài không thể làm cho ta hạnh phúc hay đau khổ. Chính cảm nhận của ta về hoàn cảnh sẽ làm cho ta hạnh phúc hay đau khổ. Nhiều người bỏ ra cả cuộc đời để đi tìm kiếm hạnh phúc. Họ ghen tị với hạnh phúc của người khác. Họ tìm kiếm hạnh phúc ở sự sở hữu tiền bạc, danh vọng, quyền lực, địa vị... và họ tưởng rằng họ sẽ có được hạnh phúc khi đạt được những thứ đó. Có thật là họ sẽ hạnh phúc khi có được những thứ đó hay không? Vậy thì hạnh phúc thực sự ở đâu? Bạn hãy thử đi tìm... để rồi một ngày nào đó bạn sẽ nhận ra hạnh phúc nằm ở rất gần, rất gần bạn thôi: nó nằm ở ngay trong suy nghĩ và cảm nhận của bạn!
ĐỪNG KẾT ÁN AI !!! Vừa nhận được điện thoại, nam bác sĩ vội vã tới bệnh viện. Ông khoác vội trang phục phẫu thuật và tiến ngay tới phòng mổ. Lúc đó, người cha của cậu bé sắp sửa phẫu thuật đang ngồi đợi tại cửa phòng. Vừa nhìn thấy bóng bác sĩ, người cha nói ngay: “Tại sao giờ này ông mới đến ? Ông không hay biết con trai tôi rất nguy kịch sao ? Thực lòng ông có trách nhiệm nghề nghiệp không vậy ?” Bác sĩ điềm tĩnh trả lời: “Thật xin lỗi, lúc này không phải ca tôi trực nên tôi không có mặt tại bệnh viện. Thế nhưng vừa nhận được điện báo tôi đến ngay đây...Và lúc này tôi muốn tịnh tâm một chút để chuẩn bị phẫu thuật”. Người cha giận dữ: “Tịnh tâm à ? Giả như con của ông đang nằm trong phòng cấp cứu thì ông có tịnh tâm được không? Nếu như con trai ông sắp chết, ông sẽ làm gì ?” Vị bác sĩ lại mỉm cười trả lời: “Tôi sẽ nói điều mà ông Gióp đã nói trong Kinh Thánh: ‘Thân trần truồng sinh từ bụi đất, tôi sẽ trở về bụi đất thân trần truồng. Chúa đã sinh ra, Chúa lại lấy đi, xin chúc tụng Chúa’. Những bác sĩ không có khả năng giữ lại mạng sống. Ông hãy đi và cầu nguyện cho con trai ông. Chúng ta sẽ nỗ lực hết mình và cậy trông vào ân sủng Thiên Chúa”. “Khuyên lơn người khác khi mà bản thân mình chẳng dính dáng gì xem ra quá dễ dàng”. Người cha phàn nàn. Cửa phòng phẫu thuật đóng lại. Vị bác sĩ miệt mài vài giờ liền trong phòng mổ. Và ông rời khỏi phòng phẫu thuật trong niềm hạnh phúc: “Cảm tạ Chúa. Con trai ông đã được cứu. Nếu muốn biết thêm chi tiết, hãy hỏi cô ý tá vừa rồi giúp tôi”. Không chờ câu trả lời của người cha, vị bác sĩ tiến thẳng và rời khỏi bệnh viện. Ngay khi nhìn thấy dáng dấp cô y tá xuất hiện, người cha nói ngay: “Loại người gì mà lại cao ngạo đến như thế kia chứ ! Thậm chí ông ta không thèm dành vài giây trả lời cho tôi biết hiện trạng con trai tôi”. Cô y tá cúi xuống, tuôn trào nước mắt, trong xúc động, cô chậm rãi trả lời: “Con trai duy nhất của bác ấy mới qua đời hôm qua do một tai nạn. Hôm nay bác ấy đang lo tang sự cho cậu. Thế nhưng vừa nhận được điện báo bác ấy tới ngay để cứu con trai ông. Bây giờ thì bác ấy trở về tiếp tục lo hậu sự cho đứa con yêu quý của mình”. Vậy xin đừng vội kết án ai. Vì bạn không biết cuộc sống của họ thế nào cũng như điều gì đang diễn ra trong tâm hồn họ và những gì họ đang phải nỗ lực vượt qua.
Ý NGHĨA CỦA ĐAU KHỔ
Tôi không có ý định thuyết phục mọi người tin rằng đời là bể khổ. Đôi khi sự hiểu biết nửa chừng về triết lý Phật giáo làm người ta bi quan trong khi sự thật thì khác: Tứ Diệu Đế dạy ta biết sống cân bằng, làm chủ nội tâm để không thấy đời đau khổ. Tôi cũng không dám nói tương lai nằm hết trong tay của con người. Lời xác quyết này có thể làm cho vài kẻ may mắn thành công ban đầu trở nên chủ quan, còn những người vừa gặp thất bại cảm thấy ê chề. Ta biết rõ rằng cả hai loại tình cảm ấy đều không ích lợi. Nhưng tôi xin nói điều mà tôi xác tín: đó là tất cả mọi việc xảy đến cho mình đều có ý nghĩa dù vui hay buồn, không gì là vô ích, chỉ tùy theo mức độ hiểu biết mà mỗi người có nhận ra nó hay không. Thành công, hạnh phúc tất nhiên là dễ chịu, nhưng thất bại hay đau khổ vẫn có giá trị nếu không nói là còn có ý nghĩa lớn lao hơn. Quý vật trên đời phải nhắc đến Trầm hương và Ngọc trai. Trầm hương chỉ sinh ra trong những cây gió bị thương hoặc bệnh. Khi bị vết thương, nhựa cây tiết ra bao phủ xung quanh vết thương đó suốt 10-15 năm và tạo thành Trầm. Trai cũng chỉ sinh ra ngọc khi có một hạt cát vô tình kẹt trong lớp thịt. Do cơ chế tự chữa lành, dịch được tiết ra bao bọc lấy hạt cát nhiều năm dày lên tạo thành ngọc. Tạo Hóa cũng ban cho con người công thức thành công đó. Ở đây, viên ngọc là bản lĩnh lúc sinh thời còn trầm hương là tiếng thơm để lại mà chính “ gian nan, thất bại “ là những tác nhân trui rèn. Trong đời ai cũng từng gặp nhiều đau khổ, nhưng bản lĩnh và tiếng thơm thì không đến với nhiều người. Đó là vì chúng ta đã từ chối, không chịu nhận lấy gian nan, không biết nghiền ngẫm thất bại, để vuột đi cơ hội biến đổi tinh thần theo hướng tốt đẹp hơn. Xin gởi đến các bạn hai câu danh ngôn phương Tây: “We may measure our road to wisdom by the sorrows we have undergone” (Con đường tới sự thông thái có thể được đo bằng những đau khổ mà ta đã trải qua) – Edward Bulwer Lytton (1803 – 1873) “A life of pleasure makes even the strongest mind frivolous at last” (Cuộc sống nhung lụa làm cả những tâm hồn mạnh mẽ nhất cuối cùng cũng trở nên phù phiếm) – Edward Bulwer Lytton (1803 – 1873)
CUỘC SỐNG Ở THIÊN ĐÀNG VÀ ĐỊA NGỤC Trước kia có vị đại từ thiện, một hôm trong mộng được Diêm Vương dẫn đi thăm quan địa ngục, trong địa ngục phát hiện mọi người đang cãi nhau. Vốn là ở địa ngục có một cái bàn lớn, trên bàn bày một số món ăn, mỗi người cầm một cái thìa rất dài. Do thìa quá dài nên không có cách nào đưa thức ăn vào miệng, mà dùng tay thì không với được thức ăn nên mỗi người đều hí hoáy nghĩ cách đưa thức ăn vào miệng với cái thìa dài trong tay. Nguyên nhân cãi nhau là thao tác chiếc thìa quá dài mà va chạm với nhau. Tiếp theo, ông ta lại lên thăm viếng cõi cực lạc. Thật kỳ lạ, quang cảnh nơi đây không khác gì địa ngục, cũng một chiếc bàn lớn, với các món ăn và những chiếc thìa rất dài. Điểm duy nhất khác nhau là mọi người ở đây ăn uống với nhau một cách vui vẻ. Tại sao vậy? Vì mọi người dùng chiếc thìa rất dài đó để xúc thức ăn cho nhau, do đó, mọi người đều có thể ăn được, không ai tranh chấp hay gây khó dễ. Thực ra Thiên Đàng và Địa Ngục không có gì khác biệt. Chính cách thức mà chúng ta nhìn nhận và cư xử với nó đã tạo nên sự khác nhau. Nếu chúng ta sống với nhau bằng tình yêu thương, biết quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau thì chúng ta sẽ nhận lại chính những điều tốt đẹp đó và cánh cổng đang chờ đợi chúng ta chính là Thiên Đàng. Ngược lại, nếu chúng ta chỉ biết nghĩ cho riêng mình thì chẳng khác nào chúng ta đang sống trong Địa Ngục.
BA NGƯỜI THẦY VĨ ĐẠI Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông: “Thưa Hasan, ai là thầy của ngài?” Hasan đáp: “Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta. Người đầu tiên là một tên trộm: Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời: “Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với tên trộm”. Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo: “Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé!” Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi: “Có trộm được gì không?” và ông ta đều đáp: “Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ.” Ta chưa bao giờ thầy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc. Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy, ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hàng đêm vẫn quả quyết: “Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ!” Người thầy thứ hai là một con chó: Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng là một con chó khác. Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gởi đến cho ta: con người phải biết chiến thắng nỗi sợ hãi trong lòng bằng hành động. Người thầy cuối cùng là một đứa bé: Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến đã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé: “Con tự thắp sáng cây nến này phải không?” Đứa bé đáp: “Thưa phải.” Đoạn ta hỏi: “Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thóang sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?” Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói: “Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu?” Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó, ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.
Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò. Điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật. Người thầy là người thông qua đó ta bắt đầu học cách học hỏi.
![]()
|
||||||||
|
||||||||



























