LINH HỒN - THỂ XÁC

  


   CÕI VÔ HÌNH

   HAMUD là một pháp sư có kiến thức rất rộng về cõi vô hình. Khác với những đạo sĩ phái đoàn đã gặp, ông này không phải người Ấn mà là một người Ai Cập. Ông ta sống một mình trong căn nhà nhỏ, xây dựa vào vách núi. Hamud không hề tiếp khách, nhưng trước sự giới thiệu của bác sĩ Kavir, ông bằng lòng tiếp phái đoàn trong một thời gian ngắn. Vị pháp sư có khuôn mặt gầy gò, khắc khổ và một thân hình mảnh khảnh. Ông ta khoác áo choàng rộng và quấn khăn theo kiểu Ai Cập.

 

   Giáo sư Evans-Wentz vào đề :

   - Chúng tôi được biết ông chuyên nghiên cứu các hiện tượng huyền bí…

   Pháp sư thản nhiên: Đúng thế, tôi chuyên nghiên cứu về cõi vô hình.


   - Như thế ông tin rằng có ma…

    Vị pháp sư nói bằng một giọng chắc chắn, quả quyết: Đó là một sự thật không những ma quỷ hiện hữu mà chúng còn là đối tượng nghiên cứu của tôi.

 

   - Bằng cớ nào ông tin rằng ma quỷ có thật?

   - Khắp nơi trên thế giới đều có các giai thoại về ma, vì con người thường sợ hãi cái gì mà họ không thể nhận thức bằng các giác quan thông thường nên họ đã phủ nhận nó. Sự phủ nhận này mang đến niềm sợ hãi. Từ đó họ thêu dệt các giai thoại rùng rợn, ly kỳ, không đúng sự thật. Nếu chúng ta chấp nhận ma quỷ hiện hữu như một con voi hay con ngựa thì có lẽ ta sẽ không còn sợ hãi. Các ông đòi hỏi một chứng minh cụ thể chăng ?

 

   - Dĩ nhiên, chúng tôi cần một bằng chứng hiển nhiên …

   - Được lắm, các ông hãy nhìn đây.

 

   Vị pháp sư mở ngăn kéo lấy ra một cặp que đan áo, một bó len và mang ra góc phòng để xuống đất. Ông ta thong thả :

   - Chúng ta tiếp tục nói chuyện, rồi các ông sẽ thấy.

 

   Mọi người ngơ ngác, không hiểu ông muốn nói gì, giáo sư Mortimer nóng nảy:

   - Nếu ông nghiên cứu về cõi vô hình, xin ông giải thích về quan niệm thiên đàng, địa ngục cũng như đời sống sau khi chết ra sao?

   Vị pháp sư nghiêm giọng: Đó là một quan niệm không đúng, sự chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vũ trụ có rất nhiều cõi giới, chứ không phải chỉ có một cõi này.

   - Khi chết ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là “dĩ thái”. Tùy theo sự rung động khác nhau mà mỗi cảnh giới một khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc, mà mỗi người thích hợp với một cảnh giới, đây là hiện tượng “đồng thanh tương ứng” mà thôi.

   Khi vừa chết, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc ở trong, áo choàng dầy khoác ngoài. Vì lớp vỏ bọc bên ngoài cấu tạo bằng nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi âm, và con người sẽ đến với cảnh giới này.

   Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần dần tan rã giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian, khi các áp lực vật chất tan rã hết thì con người tuần tự tiến lên những cảnh giới cao hơn.

   Điều này cũng giống như một quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát; mỗi lần cởi bỏ được một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không còn bao cát nào, thì nó sẽ tự do bay bổng.

   Trong bảy cảnh giới của cõi âm, thì cảnh thứ bảy có rung động nặng nề, âm u nhất, nó là nơi chứa các vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người mổ sẻ súc vật, những cặn bả xã hội, những kẻ tư tưởng xấu xa, còn đầy thú tánh. Vì ở cõi âm, không có thể xác, hình dáng thường biến đổi theo tư tưởng nên những kẻ thú tánh mạnh mẽ thường mang các hình dáng rất ghê rợn, nửa người, nửa thú.

   Những người thiếu kiến thức rõ rệt về cõi này cho rằng đó là những quỷ sứ. Điều này cũng không sai sự thật bao nhiêu vì đa số những vong linh này luôn oán hận, ham muốn, thù hằng và thường tìm cách trở về cõi trần. Tùy theo dục vọng riêng tư mà chúng tụ tập quanh các nơi thích ứng, dĩ nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được.

   Những loài ma đói khát quanh quẩn bên các chốn trà đình tửu quán, các nơi mổ sẻ thú vật để tìm những rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Khi một người ăn uống ngon lành họ có các rung động, khoái lạc và loài mà tìm cách hưởng thụ theo tư tưởng này. Đôi khi chúng cũng tìm cách ảnh hưởng, xúi dục con người nếu họ có tinh thần yếu đuối, non nớt.

   Những loài ma dục tình thì quanh quẩn nơi buôn hương bán phấn, rung động theo những khoái lạc của người chốn đó, và tìm cách ảnh hưởng họ. Nếu người sống sử dụng rượu, các chất kích thích thì ngay trong giây phút mà họ không còn tự chủ được nữa, các loài ma tìm cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa. Vì không được thỏa mãn nên theo thời gian các dục vọng cũng giảm dần, các nguyên tử nặng trọc cũng tan theo, vong linh sẽ có các rung động thích hợp với một cảnh giới cao hơn và y sẽ thăng lên cõi giới tương ứng.

   Dĩ nhiên, một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ không lưu ở cõi này, mà thức tỉnh ở một cõi giới tương ứng khác. Tùy theo lối sống, tư tưởng khi ta còn ở cõi trần mà khi chết ta sẽ đến những cảnh giới tương đồng, đây chính là định luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.

 

   Toàn thể phái đoàn im lặng nhìn nhau, vị pháp sư Ai cập đã diễn tả bằng những danh từ hết sức khoa học, chính xác, chứ không mơ hồ, viễn vông. Dù sao đây vẫn là một lý thuyết rất hay, nhưng chưa chứng minh được. Có thể đó là một giả thuyết của những dân tộc nhiều tưởng tượng như người Á châu chăng ?

 

   Hamud mỉm cười như đọc được tư tưởng mọi người :

   - Nếu các ông biết rằng tôi cũng là một tiến sĩ vật lý học tốt nghiệp đại học Oxford …

   Giáo sư Harding giật mình kêu lên:

   - Oxford ư ? Ông đã từng du học bên xứ chúng tôi sao?

   - Chính thế, tôi tốt nghiệp năm 1864, và là người Ai Cập đầu tiên tốt nghiệp về ngành này.

( Ghi chú của giáo sư Spalding : Phái đoàn đã phối kiểm chi tiết này và hồ sơ đại học Oxford ghi nhận có một tiến sĩ người Ai cập tên là Hamud El Sarim nhập học năm 1856 và tốt nghiệp năm 1864 với bằng Tiến sĩ vật lý ).

 

   - Nhưng làm sao ông biết rõ được cõi giới này? Ông đã đọc sách vở hay dựa trên những bằng chứng ở đâu?

   - Tôi đã khai mở các giác quan thể vía, nhờ công phu tu hành trong nhiều năm. Ngay khi còn là sinh viên tôi đã say mê môn vật lý siêu hình (metaphysics). Tôi dành nhiều thời giờ nghiên cứu sách vở khoa học, nhưng đến một lúc thì khoa học phải bó tay. Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi đến với khoa “huyền bí học “. Tôi học hỏi rất kỹ về môn này, khi trở về Ai cập tôi may mắn gặp được các vị đạo sư uyên bác, nên sự nghiên cứu càng ngày càng tiến bộ.

   Sự nghiên cứu dẫn dắt tôi sang Ấn độ, và Tây Tạng. Tại đây tôi gặp một Lạt Ma chuyên nghiên cứu về cõi âm, tôi đã học hỏi rất nhiều với vị này. Sau đó, tôi tu nhập thất trong 10 năm liền, và khai mở được một vài giác quan đặc biệt. Từ đó, tôi tha hồ nghiên cứu cõi âm vì tôi có thể sang tận đây học hỏi và cõi này trở nên quen thuộc, tôi kết bạn với rất nhiều sinh vật siêu hình, chúng giúp đỡ tôi rất nhiều.

 

   Giáo sư Evans- Wentz ngập ngừng :

   - Ông muốn nói rằng ông kết bạn với ma ?

   - Dĩ nhiên, vì tôi dành trọn thời giờ hoạt động bên cõi này, nên tôi có rất đông bạn bè, phần lớn là vong linh người quá cố nhưng cũng có một vài sinh vật có đường tiến hoá riêng, khác với loài người, có loài khôn hơn người và có loại không thông minh hơn loài vật là bao…

 

   - Giao thiệp với chúng có lợi ích gì không?

   - Các ông nên biết cõi âm là một thế giới lạ lùng, phức tạp với những luật thiên nhiên khác hẳn cõi trần. Sự đi lại giao thiệp giúp ta thêm kiến thức rõ ràng…..

 

   - Như thế có nguy hiểm không?

   - Dĩ nhiên, có nhiều sinh vật hay vong linh hung ác, dữ tợn…Một số thầy phù thuỷ, thường liên lạc với nhóm này để mưu cầu lợi lộc, chữa bệnh hoặc thư phù, nguyền rủa….

 

   - Ông có thể làm như vậy không ?

   Vị pháp sư nghiêm mặt: Tất cả những việc gì có tính cách phản thiên nhiên, ngược luật tạo hoá đều mang lại hậu quả không tốt. Mưu cầu lợi lộc cho cá nhân là điều tối kỵ của ai đi trên đường đạo. Tôi không giao thiệp với những loại vong linh này, vì chúng rất nguy hiểm, hay phản phúc và thường giết chết kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào. Các ông nên nhớ tôi là một khoa học gia chứ không phải một thầy pháp hạ cấp hay một phù thuỷ chữa bệnh.

 

    - Xin ông nói rõ hơn về những cảnh giới cõi âm.

   - Các ông nên biết dù ở cõi nào, tất cả cũng không ra ngoài các định luật khoa học. Thí dụ như vật chất có ba thể : thể lỏng, thể đặc và thể hơi, thì bên cõi này cũng có những thể tương tự.

   Luật thiên nhiên cho thấy vật nặng sẽ chìm xuống dưới và vật nhẹ nổi lên trên thì cõi vô hình cũng thế. Nguyên tử cõi âm rung động với một nhịp độ khác với cõi trần, các nguyên tử rung động thật nhanh dĩ nhiên phải nhẹ hơn các nguyên tử nặng trược. Tóm lại, tùy theo nhịp độ rung động mà tạo ra những cảnh giới khác nhau, có bảy loại rung động nên có bảy cõi giới.

  Các nguyên tử rung động chậm chạp phải chìm xuống dưới vì nếu ta mang nó lên cao, sức ép sẽ làm nó tan vỡ ngay.  Thí dụ ta đặt một quả bóng xuống nước nếu đến một độ sâu nào đó sức ép của nước sẽ làm nó vỡ tan. Loài cá cũng thế, có loại sống gần mặt nước, có loại sống tận đáy đại dương. Nếu loại sống gần mặt biển bị mang xuống đáy nó sẽ bị sức ép mà chết, ngược lại nếu loài sống ở dưới đáy cũng không thể lên sát mặt nước vì đã quen với sức ép khác nhau.

   Cảnh giới thứ bảy lúc nào cũng tối tăm, nặng nề với các vong linh hình dáng ghê rợn, nhưng hoàn toàn không có vụ quỷ sứ tra tấn tội nhân. Bị lưu đày ở đây đã là khổ sở lắm rồi, các ông hãy tưởng tượng bị dục vọng hành hạ mà không thể thỏa  mãn thì còn khổ gấp trăm lần bị tra tấn. Vong linh thèm muốn nhưng không so thỏa mãn được, như đói mà không thể ăn, khát không thể uống. Do đó, theo thời gian y sẽ học bài học chịu đựng, nhẫn nhục cho đến khi dục vọng giảm bớt và tan ra thì y sẽ thăng lên cảnh giới thứ sáu.

   Cõi giới thứ sáu có sự rung động rất giống như cõi trần, tại đây các vong linh ít còn thèm muốn vật chất như ăn uống, dục tình, nhưng bận tâm với những nhỏ nhen của cuộc sống như thỏa mãn bản ngã, ích kỷ, ghen tuông, hờn giận, v…v… Đa số có hình dáng giống như người cõi trần, nhưng lờ mờ không rõ. Vì sự rung động của nguyên tử gần giống như cõi trần nên họ hay trở về cõi này, họ thường nhập vào đồng cốt, các buổi cầu cơ, cầu hồn để chỉ dẫn bậy bạ, nói chuyên vu vơ nhằm thỏa mãn tự ái, bản ngã cá nhân. Vì đa số vong linh khi còn sống rất ham mê danh vọng, chức tước, uy quyền nên khi họ nhập vào đồng cốt, họ thường tự xưng là các đấng này, đấng nọ… Theo thời gian, các rung động ham muốn, các cố chấp về bản ngã, danh vọng cũng tan biến nên họ thăng lên cảnh giới thứ năm.

   Cõi thứ năm có sự rung động thanh nhẹ hơn cõi trần nên vong linh có thể biến đổi sắc tướng rất nhanh chóng. Đây là một thế giới với những âm thanh màu sắc lạ lùng dễ bị mê hoặc. Các vong linh ở đây đã bớt ham muốn về cá nhân, nhưng còn ham muốn về tư tưởng, kiến thức. Đây là nơi cư ngụ của những kẻ đạo đức giả, những kẻ bảo thủ nhiều thành kiến, những người trí thức tự phụ, v…v… Đây cũng là cõi có những sinh hoạt của loài Tinh linh. Loài Tinh linh là những sinh vật vô hình có hình dáng hao hao giống như người mà ta thường gọi là Thiên tinh (sylphs), Thổ địa (gnome), Phong tinh (elves), v…v… Một số bị thu phục bởi các phù thủy, pháp sư để làm ảo thuật hay luyện phép. Cõi này còn có sự hiện diện của những “hình tư tưởng”.

   Các ông nên biết, khi một tư tưởng hay dục vọng phát sinh thì chúng sử dụng tinh chất cõi này tạo nên một hình tư tưởng thích hợp. Đời sống của chúng tùy theo sức mạnh của tư tưởng mạnh hay yếu. Vì đa số tư tưởng con người còn mơ hồ nên hình tư tưởng chỉ tạo ra ít lâu là tan rã ngay.  Một người tập trung tư tưởng có thể tạo ra một hình tư tưởng sống lâu trong vài giờ hay vài ngày. Một pháp sư cao tay có thể tạo ra các hình tư tưởng sống đến cả năm hay cả thế kỷ, không những thế hình tư tưởng này còn chịu sự sai khiến của ông ta. Các phù thuỷ luyện thần thông đều dựa trên nguyên tắc cấu tạo một sinh vật vô hình để sai khiến.

   Hình tư tưởng không chỉ phát sinh từ một cá nhân mà còn từ một nhóm người hay một quốc gia, dân tộc. Khi một đoàn thể, dân tộc cùng một ý nghĩ, họ sẽ tạo ra một hình tư tưởng của đoàn thể, quốc gia đó. Hình tư tưởng này sẽ tạo một ảnh hưởng vô cùng rộng lớn đối với tình cảm, phong tục, thành kiến của quốc gia, dân tộc. Ta có thể gọi đó là “Hồn thiêng sông núi” hay “dân tộc tính”.

   Khi sinh ra tại một quốc gia, ta ít nhiều chịu ảnh hưởng của hình tư tưởng này, dĩ nhiên chúng chỉ ảnh hưởng lên thể vía, nghĩa là tình cảm của dân tộc đó, chứ không ảnh hưởng đến lý trí. Một người sống nhiều bằng lý trí sẽ ít chịu ảnh hưởng như người bình thường. Điều này giải thích tại sao một dân tộc có tâm hồn mơ mộng như thi sĩ, khi dân tộc khác lại có đầu óc thực tế mặc dù trên phương diện địa lý, họ không ở cách xa nhau mấy và ít nhiều chia sẻ một số quan niệm về tôn giáo, phong tục, tập quán.

   Cảnh giới cõi thứ tư sáng sủa hơn và dĩ nhiên nguyên tử cõi này rung động rất nhanh. Phần lớn những vong linh tiến hoá, thánh thiện, những nhà trí thức trầm mặc nhưng còn quyến luyến một ít dục vọng khi chết đều thức tỉnh ở cảnh giới này. Đa số đều ý thức ít nhiều, nên họ bắt đầu cởi bỏ những ham muốn, quyến luyến. Đây cũng là chỗ họ học hỏi và ảnh hường lẫn nhau, và đôi khi kết những liên hệ để cùng nhau tái sinh trong một gia đình hay quốc gia.

   Cõi giới thứ ba chói sáng, có những rung động nhẹ nhàng. Tại đây có những linh hồn từ tâm nhưng vụng về, những tu sĩ thành tâm nhưng thiếu trí tuệ, những nhà lãnh đạo anh minh nhưng thành kiến. Đây cũng là một cảnh giới của một số thần linh (devas) như Cảm dục thiên thần (Kamadeva), Hữu sắc thiên thần (Rupadeva), và Vô sắc thiên thần (Arupadeva). Các thần linh này có đời sống và tiến hoá cao hơn trình độ của nhân loại.

   Cõi giới thứ hai và thứ nhất cấu tạo bằng những nguyên tử hết sức thanh thoát, rung động rất nhanh và tràn đầy ánh sáng. Đây là cõi giới mà những người tiến hoá rất cao, rất tệ nhị không còn dục vọng, ham muốn, lưu lại để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, phát triển các đức tính riêng trước khi siêu thoát lên cảnh giới cao hơn.

 

   - Như thế người chết thường lưu lại ở cõi “ trung giới ” bao nhiêu lâu ?

   - Thời gian lưu lại đây hoàn toàn tùy thuộc vào dục vọng con người, có người chỉ ghé lại đây vài giờ, lập tức đầu thai trở lại. Có kẻ ở đây hàng năm và có kẻ lưu lại đây hàng thế kỷ… Để siêu thoát, thể vía phải hoàn toàn tan rã hết thì mới lên đến cõi “ thượng thiên” hay siêu thoát. Tóm lại danh từ như thiên đàng hay địa ngục chỉ là những biểu tượng của những cảnh ở cõi “ trung giới (Kamaloka) “. Tùy theo sự sắp xếp của thể vía khi chết, mà ta thức tỉnh ở một cảnh giới tương ứng.

 

   Mọi người yên lặng nhìn nhau, những điều Hamud giải thích hoàn toàn hợp lý và hết sức khoa học, không hoang đường chút nào.

   Nhưng làm sao chứng minh những điều mà khoa học thực nghiệm không thể nhìn thấy được ? Dù sao Hamud cũng là một tiến sĩ vật lý tốt nghiệp đại học nổi tiếng nhất Âu Châu chứ không phải một phù thủy vô học chốn hoang vu, ít nhiều ông ta cũng có một tinh thần khách quan vô tư của một khoa học gia chứ không mê tín, dễ chấp nhận một lý thuyết vu vơ, không kiểm chứng. Nhưng làm sao có thể thuyết phục những người Âu Mỹ vốn rất tự hào, nhiều thành kiến và tin tưởng tuyệt đối ở khoa học.

 

   Hamud mỉm cười tiếp tục :

   - Sự hiểu biết về cõi vô hình rất quan trọng, vì khi hiểu rõ những điều xảy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết nữa. Nếu có chết chỉ là hình hài, xác thân chứ không phải sự sống, và hình hài có chết đi, thì sự sống mới tiếp tục tiến hoá ở một thể khác tinh vi hơn. Đây là một vấn đề hết sức hợp lý và khoa học cho ta thấy rõ sự công bình của vũ trụ.

   Khi còn sống, con người có dục vọng này nọ, khi dục vọng được thỏa mãn, nó sẽ gia tăng mạnh mẽ, đồng thời các chất thô kệch, các rung động nặng nề sẽ bị thu hút vào thể vía.

   Sau khi chết, dục vọng này trở nên mạnh mẽ vì không còn lý trí kiểm soát nữa, chính thế nó sẽ đốt cháy con người của ta.  Sự nung đốt của dục vọng chẳng phải địa ngục là gì ?

   Giống như đức tính, phẩm hạnh khi còn trẻ, quyết định điều kiện sinh sống lúc tuổi già, đời sống cõi trần quyết định đời sống bên kia cửa tử.

   Luật này hết sức hợp lý và dễ chứng minh.

   Khi còn trẻ ta tập thể thao, giữ thân thể khoẻ mạnh, thì khi về già ta sẽ ít bệnh tật, khi còn trẻ ta chịu khó học hỏi, có một nghề nghiệp vững chắc thì khi về già đời sống được bảo đảm hơn, có đúng thế không ?

   Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn, làm chủ được đòi hỏi thể xác, thì các dục vọng này không thể hành hạ khi ta chết. Luật thiên nhiên định rằng khi về già thể xác yếu dần, đau ốm, khiến cho ta bớt đi các ham muốn và nhờ thế, dục vọng cũng giảm bớt rất nhiều nên thể vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề, ô trượt để khi chết, sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao thượng hơn.

   Trái lại những người còn trẻ, lòng ham muốn còn mạnh mẽ, nếu chết bất đắc kỳ tử thường đau khổ rất nhiều và phải lưu lại cõi trung giới lâu hơn. Nếu hiểu biết như thế, ta cần phải duyệt xét lại đời sống của mình ở cõi trần để khỏi lưu lại những cảnh giới thấp thỏi, nặng nề bên cõi âm.

   Những người lớn tuổi cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc, các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải biết xả ly, dứt bỏ mọi phiền não để mau chóng siêu thoát. Một sự chuẩn bị ở cõi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cõi âm và chóng thúc đẩy thời gian lên cõi giới cao hơn.

 

   - Nhưng còn các ma quỷ thì sao?

   - Các ông cứ cho rằng ma quỷ là một thực thể thế nào đó, khác hẳn loài người. Thật ra phần lớn chúng là những vong linh sống ở cảnh giới thứ bảy, thứ sáu mà thôi. Chúng còn lưu luyến cõi trần, còn say mê dục vọng không sao thoát ra khỏi cảnh giới này… Luật thiên nhiên không cho phép chúng trở lại cõi trần, nhưng cũng có những trường hợp đặc biệt, khiến người cõi trần trong một thoáng giây có thể nhìn thấy chúng…Khoan đã, các ông hãy xem kìa, người bạn của tôi đã làm xong việc.

   Hamud chỉ vào góc phòng nơi ông ta để bó len và cây kim đan áo. Mọi người bước đến gần và thấy một chiếc áo len đan bằng tay đã thành hình từ lúc nào không ai rõ. Chiếc áo đan tay rất vụng, không khéo léo nhưng trên ngực có thêu tên giáo sư Mortimer. Vị pháp sư giải thích :

   - Con ma này rất nghịch, và thường quanh quẩn ở đây. Tôi yêu cầu hắn đan chiếc áo len cho các ông để làm bằng chứng. Để tránh việc các ông cho rằng tôi làm trò ảo thuật, tráo vào đó một chiếc áo len khác, tôi yêu cầu hắn thêu tên người nào trong phái đoàn có nhiều nghi ngờ nhất. Các ông đều biết rằng từ khi gặp gỡ tôi không hề hỏi tên các ông, và nếu chiếc áo này không đan riêng cho các ông thì còn ai nữa ?

 

   Quả thế, vị pháp sư gầy gò không thể mặc chiếc áo đan to tướng , rất vừa vặn cho giáo sư Mortimer, một người Âu mà kích thước đã rất ư quá khổ, so với những người Âu khác, đó là chưa kể vòng bụng khổng lồ, rất hiếm có của ông này. Hơn nữa, áo này cũng không thể may sẵn để bán vì đường kim mũi chỉ rất ư vụng về, nếu có bán, cũng chẳng ai mua. Tại nơi hoang vu, không có ai ngoài vị pháp sư và phái đoàn, sự kiện này quả thật rất lạ lùng.

 

   Giáo sư Evans-Wentz thắc mắc:

   - Như vậy ông có thể sai khiến ma quỷ hay sao?

   - Tôi không phải là một phù thuỷ, lợi dụng quyền năng cho tư lợi; mà chỉ là một người có rất nhiều bạn hữu vô hình bên cõi âm. Tôi hiểu rõ các luật thiên nhiên như luân hồi, nhân quả, và hậu quả việc thờ cúng ma quỷ để mưu cầu một cái gì. Tôi chỉ là một khoa học gia nghiên cứu cõi vô hình một cách đứng đắn. Sự nghiên cứu những hiện tượng siêu hình là một khoa học hết sức đứng đắn, chứ không phải mê tín dị đoạn.

   Nhiều người thường tỏ ý chê cười khi nói đến vấn đề ma quỷ, nên những ai có gặp ma, cũng chả dám nói vì sợ bị chê cười hay cho là loạn trí. Nếu người nào không tin hãy nghiên cứu và chứng minh một cách khoa học rằng ma quỷ chỉ là những giả thuyết tưởng tượng, còn như phủ nhận không dám chứng minh chỉ là một cái cớ che dấu sự sợ hãi. Điều khoa học chưa chứng minh được không có nghĩa là điều này không có thật, vì một ngày nào đó, khoa học sẽ tiến đến mức mà họ có thể chứng minh tất cả.

   Những phương pháp thông thường như cầu cơ, đồng cốt, thường gặp sai lầm vì như tôi đã trình bày, các vong linh nhập vào phần lớn cũng có kiến thức giới hạn ở cảnh giới nào đó. Đôi khi họ cũng trích dẫn vài câu trong “Thánh kinh”, hoặc sách vở, kinh điển để nâng cao giá trị lời nói, điều này có khác nào những nhà chính trị khi diễn thuyết.

   Phương pháp khoa học chính xác nhất là phải tự mình qua hẳn thế giới đó nghiên cứu. Các ông nên biết thân thể chúng ta không phải môi trường duy nhất của linh hồn và giác quan của nó cũng không phải phương tiện duy nhất để nghiên cứu ngoại cảnh. Nếu ta chấp nhận rằng vũ trụ có nhiều cõi giới khác nhau và mỗi thể con người tương ứng với một cõi, thì ta thấy ngay rằng thể xác cấu tạo bằng nguyên tử cõi trần nên chỉ giới hạn trong cõi này được thôi.

   Các thể khác cũng có giác quan riêng của nó và khi giác quan thể vía được khai mở, ta có thể quan sát các cõi giới vô hình dễ dàng. Khi từ trần, thể xác tiêu hao, các giác quan không còn sử dụng được nữa thì linh hồn sẽ tập phát triển các giác quan thể vía ngay. Nếu biết cách khai mở các giác quan này khi còn sống, ta có thể nhìn thấy cõi âm một cách dễ dàng.

 

   Giáo sư Allen ngập ngừng :

   - Nhưng có một quan niệm lại cho rằng, sau khi chết linh hồn sẽ lên thiên đàng hay xuống địa ngục vĩnh viễn, điều này ra sao?

   Hamud lắc đầu :

   - Đó là một quan niệm không hợp lý, vì điều này cho rằng khi chết linh hồn sẽ đổi thay toàn diện. Sau khi chết, linh hồn sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện, trở nên một vị thiên thần vào cõi thiên đàng hoặc là linh hồn có thể mất hết các tính tốt để trở nên xấu xa, trở nên một thứ ma quỷ bị đẩy vào địa ngục. Điều này vô lý vì sự tiến hoá phải từ từ, chứ không thể đột ngột được.

   Trên thế gian này, không ai toàn thiện hay toàn ác. Trong mỗi chúng ta đều có các chủng tử xấu, tốt do các duyên, nghiệp từ tiền kiếp để lại; tùy theo điều kiện bên ngoài mà những chủng tử này nẩy mầm, phát triển hay thui chột, không thể phát triển.

   Một người tu thân là một người biết mình, lo vun xới tinh thần để các nhân tốt phát triển, giống như người làm vườn lo trồng hoa và nhổ cỏ dại. Thực ra, khi sống và chết, con người không thay đổi bao nhiêu.

   Nếu khi sống họ ăn tham thì khi chết, họ vẫn tham ăn, chỉ có khác ở chỗ, điều này sẽ không còn được thỏa mãn vì thể xác đã hư thối, tan rã mất rồi. Sau khi chết, tìm về nhà thấy con cháu ăn uống linh đình mà họ thì không sao ăn được, lòng ham muốn gia tăng cực độ như lửa đốt gan, đốt ruột, đau khổ không sao tả được.

 

   - Như ông đã nói, loài ma đói thường rung động theo không khí quanh đó, như thế họ có thỏa mãn không ?

   - Khi người sống ăn ngon có các tư tưởng khoái lạc thì loài ma đói xúm quanh cũng tìm cách rung động theo tư tưởng đó, nhưng không làm sao thỏa mãn cho được. Điều này ví như khi đói, nghĩ đến món ăn ngon ta thấy khoan khoái, ứa nước bọt nhưng điều này đâu có thỏa mãn nhu cầu bao tử đâu. Các loại ma hung dữ, khát máu thường tụ tập nơi mổ sẻ súc vật, lò sát sinh để rung động theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết súc vật trong nhà vô tình mời gọi các vong linh này đến, sự có mặt của họ có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu, nhất là cho nhũng người dễ thụ cảm.

 

   - Đa số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao?

   - Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình ảnh của thể phách đang tan rã, chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể xác hư thối thì thể phách vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía cũng tan rã theo. Thể phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần. Nhưng trong đó có nhiều nguyên tử 'dĩ tháí”, nên nhẹ hơn, nó thu thập các sinh lực còn rơi rớt trong thể xác, để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang tan rã nên thể phách không hoàn toàn. Do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay là là trên các nấm mồ, người không hiểu thì gọi đó là ma. Theo sự hiểu biết của tôi, thì việc thiêu xác tốt đẹp hơn việc chôn cất, vì để thể xác tan rã từ từ làm cho linh hồn đau khổ không ít và thường ở trong một giai đoạn hôn mê, bất động một thời gian rất lâu. Thiêu xác khiến vong linh thấy mình không còn gì quyến luyến nữa nên siêu thoát nhanh hơn nhiều.

 

    - Ma quỷ thường thuộc thành phần nào trong xã hội?

   - Chúng thuộc đủ mọi thành phần, tùy theo dục vọng khi còn sống. Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Một người tự tử để trốn nợ đời cũng thế, y sẽ hôn mê trong trạng thái khổ sở lúc tự tử rất lâu. Định luật cõi âm xác nhận rằng, “Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau.”

 

   - Số phận của những người quân nhân tử trận thì ra sao ?

   - Họ cũng không ra ngoài luật lệ đó, tùy theo dục vọng từng cá nhân. Tuy nhiên, người hy sinh tính mạng cho một lý tưởng có một tương lai tốt đẹp hơn, vì cái chết cao đẹp là một bậc thang lớn trong cuộc tiến hoá. Họ đã quên mình để chết và sống cho lý tưởng thì cái chết đó có khác nào những vị thánh tử đạo. Dĩ nhiên, không phải quân nhân nào cũng sống cho lý tưởng và những kẻ giết chóc vì oán thù và chết trong oán thù lại khác hẳn.

 

    - Như ông nói thì người chết vẫn thấy người sống ?

   - Thật ra phải nói như thế này. Khi chết các giác quan thể xác đều không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi mọi sự dễ dàng vì các giác quan thể vía. Không những thế họ còn biết rất rõ tư tưởng, tình cảm liên hệ; mặc dù họ không còn nghe thấy như chúng ta. Nhờ đọc được tư tưởng, họ vẫn hiểu điều chúng ta muốn diễn tả.

 

   - Như vậy thì họ ở gần hay ở xa chúng ta ?

   - Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên những người thân nhưng theo thời gian, khi ý thức hoàn cảnh mới, họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình để sống hẳn ở cõi giới của họ.

 

   - Như thế có cách nào người sống tiếp xúc được với thân nhân quá cố không?

   - Điều này không có gì khó. Hãy nghĩ đến họ trong giấc ngủ. Thật ra nếu hiểu biết thì ta không nên quấy rầy, vì làm thế chỉ gây trở ngại cho sự siêu thoát.

   Sự chết là bước vào một đời sống mới, các sinh lực từ trước vẫn hướng ra ngoài, thì nay quay vào trong, linh hồn từ từ rút khỏi thể xác bằng một bí huyệt trên đỉnh đầu. Do đó, hai chân từ từ lạnh dần rồi đến tay và sau cùng là trái tim. Lúc này người chết thấy rất an tĩnh, nhẹ nhàng không còn bị ảnh hưởng vật chất. Khi linh hồn rút lên óc, nó sẽ khơi động các ký ức, cả cuộc đời sẽ diễn lại như cuốn phim. Hiện tượng này gọi là “hồi quang phản chiếu” (Memory projection). Đây là một giây phút hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cõi bên kia. Sợi dây từ điện liên hệ giữa thể xác và thể phách sẽ đứt hẳn. Đây là lúc người chết hoàn toàn hôn mê, vô ý thức để linh hồn rút khỏi thể phách và thể vía bắt đầu lo bảo vệ sự sống của nó bằng cách xếp lại từng lớp nguyên tử, lớp nặng bọc ngoài và lớp thanh nhẹ ở trong. Sự thu xếp này ấn định cõi giới nào vong linh sẽ đến.

 

    - Ông du hành sang cõi âm thế nào?

   - Nói như thế không đúng lắm, vì ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian. Sang cõi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan thể vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm.

   Quan niệm về không gian cũng khác vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngay. Khi di chuyển ta có cảm giác như lướt trôi, bay bỗng vì không còn đi bằng hai chân như thể xác.

 

    - Những người chết nhận thức về đời sống mới ra sao?

   - Trừ những kẻ cực kỳ hung dữ, ghê gớm, đa số mọi người thức tỉnh trong cảnh giới thứ năm hoặc thứ sáu, vốn có rung động không khác cõi trần là bao. Lúc đầu họ còn bỡ ngỡ, hoang mang nhưng sau sẽ quen đi. Tùy theo tình cảm, dục vọng mà họ hành động.

   Tôi đã gặp vong linh của một thương gia giàu có, ông này cứ quanh quẩn trong ngôi nhà cũ nhiều năm, ông cho tôi biết rằng ông rất cô đơn và đau khổ. Ông không có bạn và cũng chả cần ai. Ông trở về căn nhà để sống với kỷ niệm xưa nhưng ông buồn vì vợ con ông vẫn còn đó nhưng chả ai để ý đến ông. Họ tin rằng ông đã lên thiên đàng, vì họ đã bỏ ra những số tiền, tổ chức các nghi lễ tôn giáo rất lớn, một tu sĩ đã xác nhận thế nào ông cũng được lên thiên đàng. Tôi khuyên ông ta nên cởi bỏ các quyến luyến để siêu thoát nhưng ông ta từ chối. Một vài người thân đã qua đời cũng đến tìm gặp, nhưng ông cũng không nghe họ. Có lẽ ông ta sẽ còn ở đó một thời gian lâu cho đến khi các lưu luyến phai nhạt hết.

   Tôi đã gặp những vong linh quanh quẩn bên cạnh cơ sở mà họ gầy dựng nên, họ vô cùng đau khổ và tức giận vì không còn ảnh hưởng được gì, họ rất khổ sở khi người nối nghiệp, con cháu có quyết định sai lầm, tiêu phá cơ nghiệp.

   Tôi đã gặp những người chôn cất của cải, phập phồng lo sợ có kẻ tìm ra, họ vẫn quanh quẩn gần đó và đôi khi tìm cách hiện về dọa nạt những người bén mảng đến gần nơi chốn dấu.

   Vong linh ghen tuông còn khổ sở hơn nữa; họ không muốn người họ yêu mến chia sẻ tình yêu với kẻ khác. Đôi khi họ điên lên khi chứng kiến sự âu yếm của người họ yêu mến và người khác. Dĩ nhiên họ không thể làm gì được nên vô cùng khổ sở.

   Những nhà lãnh đạo, những vua chúa, những người hống hách quyền uy thì cảm thấy bất lực khi không còn ảnh hưởng gì được nữa, nên họ hết sức đau khổ.

   Hãy lấy trường hợp một vong linh chết đuối, vì y không tin mình đã chết, nên cứ ở trong tình trạng lúc chết, nghĩa là ngộp nước. Vì đầu óc hôn mê, nên y không nhìn thấy cõi âm, mà vẫn giữ nguyên hình ảnh cõi trần, dĩ nhiên nó chỉ nằm trong tư tưởng của y mà thôi. Nói một cách khác, thời gian như ngừng lại, y cứ thế hôn mê trong nhiều năm. Tôi đã cố gắng thuyết phục nhưng nói gì y cũng không nghe, tôi bèn yêu cầu y trở về nhà, đầu óc y hôn mê quá rồi, nên cũng không sao trở về được.

   Nhờ các bạn bè cõi vô hình, tôi tìm được tên tuổi, và địa chỉ thân nhân vong linh. Tôi tiếp xúc với họ và yêu cầu lập một nghi lễ cầu siêu để cảnh tỉnh vong linh. Nhờ sức chú nguyện mãnh lực của buổi cầu siêu, tôi thấy vong linh từ từ tỉnh táo ra, nghe được lời kinh. Y trở về nhà và chứng kiến buổi cầu siêu của con cháu gần 60 năm sau khi y qua đời. Sau đó y chấp nhận việc mình đã chết và siêu thoát…

 

   - Ông cho rằng sự cầu nguyện có lợi ích đến thế sau?

   - Cầu siêu cho vong linh là một điều hết sức quan trọng và ích lợi , vì nó chứa đựng một sức mạnh tư tưởng vô cùng mãnh liệt. Oai lực lời kinh và âm hưởng của nó thật là vô cùng ở cõi âm nếu người ta tụng niệm chú tâm, sử dụng hết cả tinh thần. Tiếc thay, người đời chỉ coi tụng niệm như một hình thức. Họ chỉ biết đọc các câu kinh trên đầu môi, chót lưỡi chứ không biết tập trung tinh thần, nên mất đi phần nào hiệu nghiệm. Sự cầu nguyện có một sức mạnh kinh khủng, có thể dời núi lấp sông, đó là bí huyết khoa “Mật Tông Tây Tạng”.

 

    - Như ông nói thì tôn giáo Tây Tạng có hiệu nghiệm nhiều hay sao?

   - Vấn đề cầu nguyện cho người chết không phân biệt tôn giáo và cũng không cần theo một nghi thức, nghi lễ nào nhất định, mà chỉ cần tập trung tư tưởng, hết sức chú tâm cầu nguyện. Theo sự hiểu biết của tôi thì tôn giáo nào cũng có những nghi lễ riêng và nghi lễ nào cũng tốt nếu người thực hành thành tâm.

 

   - Như vậy nghi lễ rửa tội trước khi chết có ích lợi gì không?

   - Một số người tin rằng, hạnh phúc vĩnh cữu của con người tùy thuộc tâm trạng y lúc từ trần. Nếu lúc đó y tin rằng mình được cứu rỗi thì như được một vé phi cơ lên thiên đàng, còn không y sẽ xuống địa ngục. Điều này gây nhiều sợ hãi, lo âu vô ích. Nếu một người chết thình lình thì sao? Phải chăng họ sẽ xuống địa ngục ? Nếu một tín đồ hết sức ngoan đạo nhưng chết ngoài trận mạc thì sao ? Họ đâu được hưởng nghi lễ rửa tội ?

   Sự chuẩn bị hữu hiệu nhất là có một đời sống thanh cao, nếu ta đã có một đời sống cao đẹp, thì tâm trạng khi chết không quan trọng. Trái lại, ta không thể ao ước một tương lai tốt đẹp dù tang lễ được cử hành bằng các nghi lễ to lớn, linh đình nhất.

   Dù sao, tư tưởng chót trước khi lìa đời cũng rất hữu ích cho cuộc sống mới bên kia cửa tử . Nó giúp vong linh tỉnh táo, dễ thích hợp với hoàn cảnh mới hơn. Một cái chết thoải mái, ung dung phải hơn một cái chết quằn quại, chết không nhắm mắt được.

   Theo tôi thì sự hiểu biết về cõi vô hình, sự chuẩn bị cho cái chết là điều hết sức quan trọng, cần được phổ biến rộng rãi, nhưng tiếc là ít ai chú ý đến việc này.

 

   - Vậy theo ông, chúng ta cần có thái độ gì?

   - Đối với người Âu tây, đời sống bắt đầu khi lọt lòng mẹ, và chấm dứt lúc chết, đó là một quan niệm cần thay đổi. Đời sống cõi trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này được biểu hiện bằng một vòng tròn mà sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa hai cõi âm, dương, giữa thế giới hữu hình và vô hình. Trên con đường tiến hoá, còn hằng hà sa số các chu kỳ, các kiếp sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cõi thượng giới cũng phải qua cõi trung giới. Phần ở cõi trần chỉ là một phần nhỏ của một kiếp sống mà thôi. Trong chu kỳ này, phần quan trọng ở chỗ vòng tròn tiến sâu vào cõi trần và bắt đầu chuyển ngược trở lên, đó là lúc linh hồn hết tha thiết với vật chất, mà có ý hướng về tâm linh. Các cổ thư đã vạch ra một đời sống ở cõi trần như sau : 25 năm đầu để học hỏi, 25 năm sau để lo cho gia đình, đây là giai đoạn tiến sâu vào trần thế, 25 năm sau nữa phải từ bỏ việc đời để lo cho tâm linh, đó là thời điểm quan trọng để đi ngược lên, hướng về tâm linh, và 25 năm sau chót phải từ bỏ tất cả, chỉ tham thiền, quán tưởng ở nơi rừng sâu, núi thẳm.

   Đối với người Á Châu thì 50 tuổi là lúc từ bỏ vật chất để hướng về tâm linh, nhưng người Âu Châu lại khác, họ ham mê làm việc đến độ mù quáng, cho đến già vẫn tranh đấu hết sức vất vả, cho dục vọng, cho bản ngã, cho sự sống còn, cho sự thụ hưởng. Do đó, đa số mất quân bình và khi chết hay gặp các nghịch cảnh không tốt.

   Theo ý tôi, chính vì sự thiếu hiểu biết về cõi âm nên con người gây nhiều tai hại ở cõi trần. Chính vì không nhìn rõ mọi sự một cách tổng quát, nên họ mới gây lầm lỗi, chứ nếu biết tỷ lệ đời sống cõi trần đối với toàn kiếp người, thì không ai dồn sức để chỉ lo cho 1/3 kiếp sống, mà sao lãng các cõi trên. Nếu con người hiểu rằng quãng đời ở cõi trần rất ngắn ngủi, đối với trọn kiếp người và đời sống các cõi khác còn gần với chân lý, sự thật hơn thì có thể họ đã hành động khác đi chăng ? Có lẽ vì quá tin tưởng vào giác quan phàm tục, nên đa số coi thế giới hư ảo này là thật và cõi khác là không có…

 

   - Nhưng nếu ông cho rằng các cõi kia còn gần với sự thật hơn, thì tại sao ta lại kéo lê kiếp sống thừa ở cõi trần làm gì ? Tại sao không rũ nhau đi sang cõi khác có tốt hơn không ?

   Hamud mỉm cười: Tuy cõi trần hư ảo, nhưng nó có những lợi ích của nó, vì con người chỉ có thể tìm hiểu, và phát triển xuyên qua các rung động thô thiển này thôi. Cõi trần có các bài học mà ta không tìm thấy ở đâu khác. Chính các bậc chân tiên, Bồ Tát trước khi đắc quả vị đều phải chuyển kiếp xuống trần, làm các công việc vĩ đại như một thử thách cuối cùng. Muốn khai mở quyền năng, con người phải tiếp nhận các bài học ở cõi trần, nhờ học hỏi những bài học này, họ mới trở nên nhạy cảm với các rung động ở cõi trên.

 

   Trích : Hành trình về Phương Đông

   ( Life and Teaching of the Masters of the Far East )

   Tác giả: Blair T.Spalding

   Dịch giả: Nguyên Phong





   NHÀ NGOẠI CẢM - PHAN THỊ BÍCH HẰNG

   Phan Thị Bích Hằng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo thuộc xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Năm 1990, khi vừa tròn 17 tuổi, Hằng bị chó dại cắn, sau 3 ngày đêm mê man bất tỉnh, bỗng sống lại và từ đó Hằng phát hiện mình có khả năng đặc biệt kỳ lạ: “Tiếp xúc với người cõi âm”. Tính đến nay, sau 17 năm nghe, thấy và nói chuyện với người bên kia thế giới, Bích Hằng đã tham gia tìm được trên 8.000 hài cốt binh sĩ tử trận và hơn 1.000 hài cốt khác của bà con bị thất lạc mộ phần, trong đó có mộ liệt sĩ Vũ Thị Kính, em gái giáo sư Trần Phương (tên thật Vũ Văn Dung), Hiệu trưởng Trường Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ Hà Nội. Chúng tôi đã có dịp phỏng vấn nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng nhân “Trai Đàn Chẩn Tế Bạt Độ” cuối tháng 3/2007 tại Chùa Linh Thắng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.  


   - Hiện nay chị đang công tác ở cơ quan nào? Trước khi có khả năng “tiếp xúc với người cõi âm”, chị có theo tôn giáo nào không?

   Bích Hằng: Tôi hiện đang công tác tại Trường Đại Học Quản Trị Kinh Doanh Hà Nội và cũng là một trong những cán bộ của Trung Tâm Nghiên Cứu Tiềm Năng Con Người thuộc Liên Hiệp Các Hội Khoa Học Việt Nam. Gia đình tôi theo Nho giáo, cha là sĩ quan quân đội, mẹ là giáo viên. Từ khi phát hiện khả năng thấy, nghe và nói chuyện được với người cõi âm, qua tâm nguyện của các hương linh nhắn gởi, tôi có nhiều cơ hội đến với đạo Phật. Chính sự thanh lương, thánh thiện của quý Thầy qua công năng tu tập và lời kinh tiếng kệ đã giúp cho các linh hồn nhẹ nhàng thảnh thơi, trút bỏ những giận hờn phiền não, dễ tha thứ cho nhau và mau siêu thoát.


   - Cảm nhận của chị khi tham dự Trai Đàn Chẩn Tế Bạt Độ?

   Bích Hằng: Tôi thật sự xúc động trước tâm nguyện và sự thánh thiện của chư tôn đức Tăng Ni cùng Phật tử nơi đây, đã khai mở pháp hội lớn như thế này để cho các hương linh được hưởng lộc Phật. Giá mà quý vị cũng được nhìn thấy “người cõi âm” như chúng tôi (phái đoàn có 7 nhà ngoại cảm cùng đi), chắc chắn rằng quý vị cũng sẽ vô cùng xúc động bởi sau lễ “Nghinh Phan Sơn Thủy”, tôi đã phải bật khóc khi trông thấy hàng trăm hương linh trong đó có cả cụ già, trẻ em, phụ nữ, người cụt cả chân tay, đui mù, tàn tật do nhiều nguyên nhân. Ai mạnh thì dìu kẻ yếu, trước sau lũ lượt vào đàn tràng ăn mày công đức nơi cửa Phật.


   - Theo chị “người cõi âm” cần gì ở chúng ta?

   Bích Hằng: Tấm lòng”. Vâng! Tôi nhấn mạnh, người cõi âm rất cần ở chúng ta những tấm lòng và họ rất sợ bị người thân quên lãng. Có ai đó cho rằng chết là hết cho nên người “âm” dễ dàng bị lãng quên. Thực tế, hương linh rất sợ sự cô quạnh hẩm hiu, họ luôn trông chờ tình cảm tưởng nhớ của người thân nghĩ về họ. “Người cõi âm” không xài tiền, không ăn mặc như chúng ta, nhưng họ lại nhận ở chúng ta đầy đủ cả tấm lòng. Khi chăm sóc mộ phần, hài cốt, lo hương khói cúng giỗ v.v… thì “người âm” sẽ nhận được sự thành tâm của người dâng cúng.


   - Giáo lý đạo Phật nói rất rõ về nghiệp lực của mỗi người. Theo chị, những hương linh mà chị đã từng gặp ( trên 8.000 hương linh ) là ai? Chị có bao giờ thấy địa ngục của người cõi âm chưa

   Bích Hằng: Thế giới người âm rất phong phú, đa dạng, chia ra làm nhiều giai tầng chứ không chỉ có những người giác ngộ về đạo Phật. Còn số mạng ư? Làm gì có số mạng cho hàng ngàn chiến sĩ, nhân dân phải tử nạn trong chiến tranh gây ra! Chính vì vậy mà các oan hồn uổng tử vật vờ đau khổ khi bị chết oan, thậm chí có người thân xác đã không còn nguyên vẹn mà hài cốt lại bị chôn vùi trong rừng sâu, khe suối… không ai hay biết. Tôi chưa thấy địa ngục của người cõi âm bao giờ, nhưng đã thấy rất nhiều các hương linh đau khổ vì nói không được do họ luôn bị canh giữ. Điển hình như trong chuyến tìm mộ liệt sĩ, khi đi ngang qua làng Thành Mỹ, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, tôi trông thấy một hương hồn thanh niên đầu cạo trọc, anh ấy muốn nhắn gởi tôi điều gì nhưng không nói được, bởi sau lưng anh có 2 bóng đen luôn ngăn cản không cho anh nói. Bên cạnh mộ anh thanh niên này, còn có mộ của một cụ già bê bết máu, cụ khóc và nhờ tôi nhắn với người thân hãy làm nhiều điều phước thiện mà cầu xin cho con trai, nó đang bị quỷ sứ canh giữ khổ sở lắm, hỏi ra mới biết cậu con trai đã giết cha và sau đó bị tử hình, hai cha con chôn chung một chỗ… Còn có trường hợp, hương linh cụ bà thọ 80 tuổi rồi, nhưng cụ cứ về kêu gia đình lên chùa cầu siêu cho cụ. Gia đình đã lập 4 đàn tràng mà cụ vẫn cứ kêu khóc hoài, người nhà liên lạc với cơ quan quản lý tiềm năng con người và xin gặp tôi. Sau khi tiếp xúc với hương linh của cụ, tôi được biết trước đây gia đình cụ có nuôi một cô cháu gái (mồ côi) gọi cụ bằng dì, hồi nhỏ cụ thường xuyên đánh đập và cho cô cháu gái ăn cơm nguội “trộn với phân của con gián”. Bây giờ muốn cho cụ được thảnh thơi thì đứa cháu gái phải thắp nhang tha thứ cho cụ và trên bàn thờ phải cúng cho cụ 1 bát cơm trộn với phân của con gián thì cụ mới mong được siêu thoát.


   - Chị đã nhắc đến rất nhiều hai từ "cầu siêu"; vậy theo chị, phương tiện cầu siêu trong đạo Phật giúp ích gì cho các hương linh?

   Bích Hằng: Tôi vô cùng tin vào sự siêu độ của nhà Phật, bằng sự thanh tịnh và cả tấm lòng từ bi của chư Tăng qua lời kinh của Phật dạy, các hương linh nghe hiểu và sẽ xả bỏ được tham chấp, oan nghiệt, từ đó họ mới mong được sám hối và siêu thoát. Đó là những điều mà các hương linh thường nhờ tôi nhắn với gia đình nên cầu siêu cho họ; âm siêu thì thế giới cõi dương mới bình an. Tôi mong sao một số tỉnh thành trên cả nước, tại những nơi mà chiến tranh xảy ra ác liệt nhất như: Quảng Trị, Quảng Nam, Điện Biên Phủ, các tỉnh Tây Nguyên, nhà tù Côn Đảo .v.v., những nơi chưa có chùa thì nên lập chùa và có nhiều trai đàn chẩn tế như thế này để cầu nguyện cho các hương linh, binh sĩ tử nạn, các vong linh oan hồn chết oan ức vì nhiều lý do, để họ được nương nhờ Phật lực mà siêu thoát.

   Thú thật, “thầy cúng” thì rất nhiều nhưng tôi vẫn cứ nhờ đến nhà chùa bởi tôi tin vào đức độ và lòng từ bi thương xót chúng sinh bằng cái tâm trong sáng của quý Tăng sĩ chân tu Phật giáo. Theo tôi, dù ở thế giới nào đi nữa thì chúng ta cũng phải đối xử với nhau bằng cái tâm thì mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp và dễ dàng hơn. Tất cả mọi nét vẽ đều rất đẹp nếu chúng ta đặt bút xuống bằng cái tâm, và chính cái tâm của người con Phật sẽ đem lại an lạc cho mọi cảnh giới.


   - Cảm ơn chị đã dành cho bạn đọc cuộc trò chuyện thú vị này.

 




   NHÀ NGOẠI CẢM - ÐỖ BÁ HIỆP

   Tại Việt Nam, những người có khả năng nhìn xuyên qua mặt đất và tìm ra thi hài người mất tích không hiếm. Một tài liệu được tăng tải trong báo Bán Nguyệt San Thế Giới mới xuất bản tại Saigon vào tháng 3 năm 1993 có nhắc đến một người có khả năng siêu phàm vì người ấy đã nhìn xuyên được vào lòng đất, người VN này có tên là Ðỗ Bá Hiệp.

   Như đã trình bày từ trên anh Hiệp có thể dùng mắt trần để tìm kiếm những gì bị chôn sâu trong lòng đất vì thế hiện nay tại VN ( nơi mà chiến tranh đã khiến cho bao nhiêu người phải chết và thân xác họ thất lạc khiến một số lớn thân nhân không thể tìm thấy để đem về mai táng ) nhiều người đang cần đến anh để tìm kiếm những thi hài, thân xác của người thân bị thất lạc. Anh Hiệp còn có khả năng đoán định được thân xác, hài cốt nào là của thân nhân nào, một điều mà các nhà khoa học khó mà giải thích được tại sao, nguyên nhân nào đã giúp anh có khả năng lạ lùng ấy. Ðiều đặc biệt là anh Hiệp cũng như bao nhiêu người có khả năng nhìn xuyên qua lòng đất chỉ thực hiện các khả năng của mình khi cần thiết phải giúp đỡ ai hay làm việc đáng làm chớ không bao giờ dùng khả năng ấy để mưu cầu lợi riêng cả. Lúc đầu, nhiều người sống gần anh Hiệp không thấy có điều gì khác lạ ở người anh ngoài công việc thường ngày là nghiên cứu khoa học. Nhưng dần dần những tin đồn về anh lan dần mãi ra khi biết anh có khả năng kỳ lạ nhưng anh hay dấu diếm và không muốn khả năng mình trở thành những bàn tán xôn xao cho mọi người.

   Nhưng dần dần anh không còn dấu được nữa, nhất là sau vụ ông Nho ở Saigon ra tận ngoài Bắc để nhờ anh tìm và chỉ ngôi mộ của cụ thân sinh mình và anh Hiệp đã chỉ đúng nơi chôn thân xác của người quá cố một cách chính xác.

   Ðược biết hai vợ chồng ông Phạm Huy Nho hiện cư ngụ tại số nhà 27 đường phố Ðông Du Saigon. Trước đó khoảng 50 năm, gia đình ông Nho ở Hà Nội và sau đó ông Nho vào Saigon lập nghiệp. Ðã bao lần ông và vợ đi Hà Nội để tìm cho được ngôi mộ người cha nhưng không thể nào tìm thấy vì qua bao nhiêu năm xa cách, hơn nữa lại trải qua các cuộc chiến tranh bom đạn, ngôi mộ coi như đã bị san bằng hoàn toàn.

   Về sau, khi nghe tin anh Đỗ Bá Hiệp có khả năng phát hiện các thi hài trong lòng đất cùng biết luôn các liên hệ thân thuộc của thi hài đó với thân nhân, ông bà Phạm Huy Nho đã hối hả đi Hà Nội. May mắn là họ đã gặp anh Hiệp và được anh nhận lời giúp đỡ.

   Sau khi nghe ông Nho trình bày về ước vọng của mình là tìm cho được mộ của người cha, anh Hiệp ngồi yên lặng một lát, mắt nhìn vào khoảng không rồi sau đó anh chậm rãi nói với hai vợ chồng ông Nho như sau:

   - Ông bà cứ yên tâm, thế nào tôi cũng tìm ra mộ cụ thân sinh của ông thôi. Theo tôi thấy thì mộ của cụ hiện đang nằm ở một vị trí gần góc một đám ruộng lớn, mai mốt tôi sẽ cùng với ông bà đến đó.

   Anh Hiệp còn cho ông bà Nho biết thêm một số chi tiết khác về người quá cố như sau:

   - Ông cụ mất tại ngoại ô Hà Nội, tại làng Vẽ, khoảng 54 hay 56 tuổi. Riêng cụ bà thì mất tại Saigon và cụ bà sống rất thọ, đến 90 tuổi.

   Sáng hôm sau anh Hiệp cùng hai vợ chồng ông bà Nho đi xe đò về làng Ðông Ngạc. Làng này thường gọi là làng Vẽ (thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội). Khi ba người đi vào một vùng ruộng khô rộng lớn, anh Hiệp đảo mắt nhìn quanh như tìm kiếm cái gì và cuối cùng anh bước đến một khoảng đất, chỉ tay vào một nấm đất đất nhỏ ở góc ruộng rồi nói:

   - Đây chính là ngôi mộ của cụ thân sinh ông đây. Sau đó anh Hiệp lại chỉ tay về một gò đất cao ở đằng xa và nói:

   - Còn gò đất kia là nơi có ngôi mộ tổ của gia đình ông. Có lẽ ông không biết. Sau này nếu có điều kiện ông nên tu sửa lại cho đàng hoàng.

   Hai vợ chồng ông Nho rất ngạc nhiên, họ nhìn sững vào anh Hiệp và thầm hỏi tại sao người ông trẻ tuổi này lại biết rõ về mồ mã người thân của giòng dõi gia tộc họ được. Hai vợ chồng ông Nho đang ngơ ngác thì anh Hiệp lại chỉ tay xuống cái nấm đất nhỏ nơi góc ruộng và nói:

   - Tôi chỉ cho hai ông bà thêm một điều nữa để khẳng định là dưới nấm đất này là hài cốt của ông cụ nhà. Đặc biệt nhất là cụ thường để râu hình chữ nhân và khi mất vẫn để y nguyên kiểu râu ấy.

   Ông Nho vô cùng kinh ngạc và xúc động vì quả thật bức ảnh của cụ thân sinh ông hiện còn thờ ở Saigon cũng cho thấy ông cụ để râu theo kiểu chữ nhân. Làm sao ở Hà Nội mà anh Hiệp lại có thể biết được mặt mũi, cách để râu của ông cụ? Nhưng điều kỳ lạ hơn nữa là sau đó, anh Hiệp còn cho biết cuộc sống của gia đình ông Nho lúc ông còn bé. Anh Hiệp nhìn vào khoảng không như đọc từ những giòng chữ trong không gian rồi chậm rãi kể tiếp :

   - Hồi đó, gia đình ông cũng thuộc vào hàng khá giả ở trong vùng. Ông cụ có ruộng vường nhà cửa nhưng sống đạm bạc. Có điều đáng nói là ông cụ rất xung khắc với ông.

   Ông Nho nhìn vợ gật đầu mấy cái tỏ dấu hiệu công nhận điều anh Hiệp nói là đúng.

   Một lát sau anh Hiệp lại hỏi :

  - Có điều lạ là có lẽ anh có một người anh em ruột phải không?

   - Dạ có! Tôi có một người em ruột.

   Anh Hiệp cướp lời:

   - Nhưng anh ấy đã qua đời!

   - Phải, nhưng làm sao anh lại biết được.

   Anh Hiệp lại nhìn vào khoảng không và nói:

   - Vì tôi đã thấy, tôi thấy họ đến trước mặt tôi. Hai người, ông cụ và người thanh niên có gương mặt giống ông. Họ rất vui mừng khi biết hai ông bà đã có ý đi tìm mộ chí của họ để thăm viếng.

   Tự nhiên một luồng hơi lạnh xuyên suốt vào cơ thể hai vợ chồng ông Nho khi nghe anh Hiệp nói câu đó. Rồi anh Hiệp lại tiếp lời:

   - Lòng thành tâm và tình máu mủ ruột thịt, sợi dây liên lạc tâm linh đã dẫn dắt họ đến. Tôi thường thấy được họ, họ ở cõi giới khác, họ cũng có thiện tâm và nhiều ao ước, không có gì để sợ sệt. Có điều là không hiểu tại sao tôi lại không thấy được ngôi mộ của người anh hay người em của ông ?

   Ông Nho nói:

   - Tôi có người em trai đúng như anh đã nói. Em tôi đã mất lúc chưa đầy 30 tuổi và an táng tại Nam Định.

   Câu chuyện hai vợ chồng ông Nho nhờ anh Hiệp tìm ngôi mộ của cụ thân sinh chẳng mấy chốc lan truyền khắp Hà Nội, sau đó lan cả vô Nam. Nhiều người nôn nóng chờ đợi có dịp được gặp anh Hiệp để nhờ anh chỉ chỗ chôn cất của người thân đã thất lạc. Trong khi đó anh Hiệp càng ngày càng bận rộn trong công việc giúp đỡ nhiều người để tìm kiếm thi hài, mộ chí những người bị mất tích. Nhiều chuyện có thật kể về khả năng lạ lùng của anh Hiệp được nhiều người truyền miệng nhau và cả báo chí cũng đăng tải.

   ...Anh Hiệp sống với mọi người, với mẹ, vợ và hai con, bình thường, rất bình thường và giản dị, trong một căn hộ quá chật hẹp của một trung cư. Anh giản dị rất mực, xuyềnh soàng trong ăn mặc, song lại rất giàu nhiệt tình, vô tư, trung thực và hào hiệp, đã giúp ai là chu đáo tận tình đến nơi đến chốn và tuyệt nhiên không cầu lợi. Chỉ có điều (có lẽ các nhà khoa học sẽ tìm được cách lý giải chăng), từ 20 năm nay, một ngày đêm 24 tiếng anh chỉ ngủ có 2 tiếng mà vẫn cảm thấy bình thường.

 

   Câu chuyện có thật sau đây đã chứng minh về khả năng kỳ diệu có tính cách siêu phàm mà anh Ðỗ Bá Hiệp đã có được. Có lần một người đàn bà Hoa Kỳ sang Việt Nam với mục đích là tìm kiếm thi hài của người con trai bà lúc chiến đấu ở Việt Nam. Người lính Mỹ này đã tử thương trong một cuộc hành quân ở Tây Ninh. Người đàn bà này khi đến Saigon, bà chỉ có trong tay độc nhất một lá thư của con trai bà đã gởi cho bà trước khi tử trận, tuy nhiên bà rất tin tưởng rằng bà sẽ tìm thấy được hài cốt con bà vì bà đã nghe và tin rằng ở VN hiện đang có một người có khả năng siêu linh có thể tìm được hài cốt người chết bị thất lạc và bà đã liên lạc và yêu cầu được giúp đỡ.

   Anh Hiệp đã sẵn sàng đi Tây Ninh với người đàn bà Hoa Kỳ cùng với một số nhân viên nhà nước. Khi họ đến được nơi mà theo linh cảm của anh Hiệp thì: "Tôi không nghĩ rằng con bà ở khoảng đó", họ xuống xe và đi bộ. Qua một khoảng cây cối rậm rạp, họ đến một bãi đất hoang có nhiều gò đống. Bỗng nhiên anh Hiệp dừng lại nhìn chăm chăm về phía trước rồi quay qua nói với người đàn bà Hoa Kỳ:

   - Con bà đang đến đó, anh ta có vẻ hớn hở vì đã gặp được bà. Tuy nhiên anh ấy chạy khập khễng.

   - Người đàn bà Hoa Kỳ vừa rơm rớm nước mắt vừa tỏ vẻ ngạc nhiên.

   - Trời ơi! Ông thấy con tôi sao ? Ðúng, đúng là con tôi bị chân thấp chân cao.

   Rồi bà lôi từ xách tay ra một tập ảnh trao cho anh Hiệp, bà nói:

   - Ông hãy xem qua và nhận dạng con trai tôi có giống như người ông vừa nói mới chạy đến đó không ?

   Anh Hiệp đỡ lấy tập ảnh và vội vàng xem qua từng tấm và anh dừng lại ở 1 tấm hình rồi nói:

   - Đây, thưa bà, đây chính là con trai bà.

   Người đàn bà Hoa Kỳ run run đỡ lấy tấm hình, và ép sát vào ngực mình, nước mắt tuôn tràn. Bà nghẹn ngào nói:

   - Ông Hiệp! Ông là một con người siêu đẳng, ông là ân nhân của tôi. Tôi chưa bao giờ thấy và biết được những sự mầu nhiệm lạ thường như bây giờ. Ông đã chỉ đúng con tôi. Vậy xin ông hãy chỉ cho tôi hài cốt của con tôi....

   Anh Hiệp lại dẫn người đàn bà Hoa Kỳ tiến về phía trước khoảng 20 thước rồi dừng lại. Anh đảo mắt nhìn xuống đất rồi chỉ tay vào một vùng đất đầy cỏ rậm, anh vói với những người đi theo: 

   - Chúng ta hãy đào ở chỗ này. Tôi nghĩ hài cốt của người lính Mỹ ấy đã vùi dập vội vàng tại vị trí này. Tức thì những lưỡi cuốc xẻng lẹ làng đào xới cỏ và chỉ mười phút sau đã lộ diện bộ hài cốt.

 

   Chuyện lạ về khả năng đầy vẻ siêu linh, thần bí của anh Hiệp ngày càng được lan truyền ra vì chính ngay cả các nhà khoa học, các nhà địa chất, những chuyên gia khoa học nước ngoài đã chứng kiến tận mắt những gì anh Hiệp đã làm và họ cũng chưa tìm ra được lời giải thích.

 

  

 




   CHUYỆN TÁI SINH CỦA JENNY

   Vào mùa xuân năm 1993, một bà mẹ người Anh 40 tuổi đang sinh sống với chồng và hai con ở thành phố Northamptonshire Anh quốc đã đoàn tụ với năm người con của bà ở đời sống trước tại Malahide, một thị trấn nhỏ ở miền bắc nước Aí Nhĩ Lan. Mùa xuân năm nay 1994, Bob Brown và nhóm phóng viên truyền hình của chương trình 20/20 ABC Hoa Kỳ đã đến tận nơi đây làm phóng sự về sự tái sinh của bà mẹ này cùng hội họp với những người con của kiếp sống trước của bà. Đây là câu chuyện tái sinh có thực đã xảy ra vào cuối thế kỷ thứ hai mươi này. Một câu chuyện đầy thương tâm và nước mắt, một câu chuyện đi tìm con vượt biên cương và trải dài qua nhiều kiếp người của một bà mẹ.

   Bà tên là Jenny và lúc nào cũng biết và nhớ là mình đã có một đời sống ở kiếp trước nơi một ngôi làng nhỏ bên bờ biển xứ Ái Nhĩ Lan với tên là Mary. Mary, một người đàn bà trẻ, tầm vóc trung bình đã từ trần 21 năm trước khi Jenny được sinh ra ở Anh Cát Lợi.

   Một trong những giấc mơ và luôn luôn hiển hiện trong trí nhớ của Jenny là giây phút lìa đời của Mary trong nỗi đơn độc, đau khổ của mình và lo âu về tương lai đầy bơ vơ của các con bà mà thằng lớn nhất mới có 13 tuổi. Nỗi lo âu và đau khổ này đã ám ảnh bà, đã hiển hiện thường trực trong tâm trí nàng từ lúc còn nhỏ. Nàng nghĩ rằng mình đã có lỗi khi phải từ bỏ các con bơ vơ nơi cõi trần và nàng quyết định phải đi tìm con cho bằng được.

   Ngay từ lúc còn rất nhỏ, khi mới bắt đầu cầm được viết, Jenny đã vẽ bản đồ làng với những con đường dẫn đến một căn nhà mái tranh nơi Mary ở, đến nhà thờ, ga xe lửa, các cửa hàng bách hóa...và sau này so sánh với bản đồ Ái Nhĩ Lan ở trường học, Jenny đã khám phá ra rằng bản đồ mà nàng đã vẽ từ trong trí nhớ, và trong những giấc mơ tiền kiếp đã thật giống với bản đồ một làng nhỏ nằm ở phía bắc thành phố Dublin - Ái Nhĩ Lan, có tên gọi là Malahide.

   Theo năm tháng, Jenny lớn dần cùng với hình ảnh căn nhà mái tranh, với từng căn phòng, góc bếp, với hình ảnh nhà thờ quán chợ nơi thị trấn hiền hòa Malahide. Trong tâm tưởng, nàng vẫn cảm thấy có lỗi với các con khi bỏ chúng lại bơ vơ nơi cõi trần nên nàng quyết định đi tìm con.

   Jenny sắp đặt kế hoạch nhưng lại không đủ khả năng tài chánh cho chuyến đi qua xứ Ái Nhĩ Lan nên đành hoãn lại và tình nguyện làm một người thôi miên cho một thôi miên gia chuyên môn tìm hiểu quá khứ. Ông này đã giúp Jenny nhớ lại thật nhiều hình ảnh chi tiết của Mary và ngôi làng của cô ở vào năm 1919, cách thức ăn mặc, đi đứng nằm ngồi và nấu nướng của Mary hồi ấy. Qua thôi miên Jenny đã mô tả chi tiết căn nhà, từng bức hình treo trên tường, kể cả một tấm hình của Mary. Jenny cũng mô tả và vẽ ra hình nhà thờ. Tuy nhiên, có một điều thất vọng là Jenny vẫn chưa nhớ ra được tên họ tức last name của Mary là gì, điều này đã gây ra rất nhiều trở ngại cho việc kiếm tìm các con của nàng sau này.

   Cuối cùng, Jenny đã để dành đủ tiền để thực hiện một chuyến du hành qua Ái Nhĩ Lan đi tìm những dấu tích của căn nhà mái tranh, của những con đường xưa lối cũ. Đến nơi đó, nàng đã đứng lặng trước một căn nhà mà bên kia là ngã ba đường dẫn về thành phố. Nàng thấy sao hình ảnh này quen thuộc quá, giống như trong trí tưởng, giống như bản đồ nàng đã vẽ. Nàng nhủ thầm rằng Malahide đây chính là chìa khóa mở cửa vén lên bức màn về sự thật của kiếp sống trước của nàng, là bước chân khởi đầu trên con đường tìm con.

   Sau chuyến đi, Jenny trở về Anh quốc và bắt đầu thực hiện kế hoạch tìm con. Nàng viết thư cho tất cả các báo ở Ái Nhĩ Lan, các tổ chức sử học, các văn phòng hộ tịch, các chủ phố, và dân làng Malahide để yêu cầu giúp đỡ về tin tức của một người đàn bà tên Mary chết vào năm 1930 cùng với những người con của bà này.

   Một thời gian lâu sau đó, Jenny nhận được thư của một chủ đất ở Malahide cho biết ở đó có một gia đình mà người mẹ tên là Mary đã chết sau một thời gian ngắn khi sanh đẻ? để lại sáu đứa con còn sống. Last name của người đàn bà bất hạnh đó là Sutton và sau khi bà Sutton qua đời, các đứa con đã được gửi vào các cô nhi viện.

   Đúng như trong trí tưởng và trong các giấc mơ về nỗi lo âu của Mary khi lìa đời, các con của bà đã thực sự bơ vơ đi vào các trại mồ côi. Jenny cảm thấy nỗi đau khổ trùng trùng. Nàng biên thư cho tất cả các viện mồ côi ở Ái Nhĩ Lan để dò hỏi tin tức và sung sướng thay, Jenny được tin tức từ một vị giáo sĩ ở một nhà thờ thành phố Dublin. Sau khi thư từ qua lại với các sở họ đạo và cả với bộ giáo dục Ái Nhĩ Lan, vị giáo sĩ này cho tên của tất cả sáu người con của bà và nói rằng sáu đứa trẻ này đã trở thành Ki Tô hữu tại nhà thờ Thiên Chúa Giáo Saint Syvester ở Malahide. Lá thư của vị giáo sĩ không dài lắm nhưng đã mang lại niềm tin và hy vọng lớn lao cho Jenny.

   Sau đó, qua niên giám điện thoại Jenny đã gửi thư đến tất cả những ai mang họ Sutton tại Aí Nhĩ Lan. Nàng cũng nhận được một bản sao giấy khai tử của Mary và hai bản sao giấy khai sinh của hai người con, nhưng vẫn không tìm ra tung tích. Một lần nữa Jenny lại gửi thư cho tất cả các báo ở Dublin và thư cho giáo sư Tiến sĩ Stevenson một chuyên gia nghiên cứu về các hiện tượng ở đời sống quá khứ để nhờ giúp đỡ. Stevenson giới thiệu Jenny với Gitti Coast một nhà nghiên cứu thuộc cơ quan truyền thông Anh quốc BBC.

   Một thời gian khá lâu sau đó, Jenny nhận được điện thoại từ người con thứ hai ở Ái Nhĩ Lan. Cuộc nói chuyện hết sức khó khăn với nhiều tình cảm lẫn lộn nhưng nói chung có những dấu hiệu tốt đẹp. Jenny hứa sẽ gửi toàn bộ hồ sơ lưu trữ từ nhiều năm qua. Tư tưởng của nàng lúc này cũng lộn xộn. Mặc dầu biết là các con của Mary bây giờ đều đã ở vào lứa tuổi 50 và 60 nhưng Jenny vẫn có cảm giác mạnh mẽ về tình mẫu tử đối với các con của nàng, vẫn có cảm giác mạnh là mẹ của họ.

   Mary và các con của nàng hay là các con của Jenny ở kiếp sống trước đang dần dần trở nên một thực thể, tâm tư của nàng bây giờ thật xáo trộn: Nàng thuộc về đâu? thuộc về đời sống hiện tại hay thuộc về đời sống quá khứ với các con nàng tìm ra? Có lẽ không trông mong một điều gì là tốt hơn cả. Nàng nhủ thầm như vậy và hãy để thời gian trả lời.

   Jenny đang bước vào giai đoạn cuối cùng của công cuộc tìm kiếm, nàng thông báo đầy đủ diễn tiến mới cho Gitti Coast của đài BBC. Đài BBC muốn dự án tìm con của Jenny trở thành một tài liệu sống của sở nghiên cứu của đài nên đã thương lượng với Jenny. Phần Jenny, nàng chỉ yêu cầu có một điều duy nhất là đặt sự phúc lợi và niềm an bình hạnh phúc của gia đình lên trên hết.

   Chờ mãi không thấy sự hồi âm của đứa con thứ hai mà Jenny đã nói chuyện qua điện thoại. Nàng quyết định liên lạc với Sonny, hiện đang ở thành phố Leeds Anh quốc. Sonny là người con đầu của Mary Sutton, khi Mary qua đời cậu mới 13 tuổi và bây giờ vào ngày thứ ba 15 tháng 5 năm 1990 Sonny đã 71 tuổi. Qua cuộc điện đàm Jenny mô tả cho Sonny biết về quá khứ của cậu, về hình ảnh căn nhà mái tranh, về tính nết của cậu, về những lời nói hay câu mắng của Mary với cậu hồi đó. Đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và khó có thể ngờ được người đầu dây bên kia lại chính là mẹ mình. Sonny ngỏ ý muốn được gặp Jenny ngay.

   Như đã thỏa hiệp với đài BBC, Jenny thông báo những biến chuyển mới. Đài BBC muốn phỏng vấn Sonny trước và trong thời gian này hai người không được liên lạc với nhau. Họ muốn nghiên cứu tường tận về Sonny rồi phân tích và so sánh với những dữ kiện mà họ đã có về Jenny. Cũng trong thời gian này họ đã phỏng vấn thêm Jenny về những điểm chưa sáng tỏ.

   Cuộc điều tra của đài BBC kéo dài 4 tháng và cuối cùng Jenny đã đích thân lái xe đưa cả gia đình của nàng đến thành phố Leeds hội ngộ cùng Sonny. Cuộc đoàn tụ đã diễn ra thật cảm động; Giấc mơ đi tìm con của Jenny đã trở thành sự thực, hai mẹ con, mẹ trẻ con già đã ôm nhau với những giòng nước mắt tuôn trào. Sonny cũng như Jenny đều đã nhận được bảng phân tích và so sánh dữ kiện của đài BBC trước đó. Các chuyên gia đài BBC đều không thể ngờ được một khái niệm về trí tưởng lại có thể đúng một cách chính xác với thực tế như vậy. Họ cũng không ngờ rằng có một đời sống sau khi chết đang hiển hiện rõ ràng.

   Với sự giúp đỡ của Sonny, công cuộc kiếm tìm các con của Mary được tiếp tục suốt những năm tháng dài sau đó và cuối cùng vào năm 1993 Jenny đã hội ngộ đoàn tụ với tất cả 5 người con còn sống. Hơn 60 năm từ khi mẹ chúng qua đời anh em mới được đoàn tụ với nhau và đặc biệt hơn cả là đoàn tụ với người mẹ trẻ đã tái sinh ra trong kiếp này để đi tìm chúng.

   Năm nay 1994 Bob Brown và nhóm phóng viên truyền hình chương trình 20/20 ABC Hoa Kỳ đã một lần nữa mang Jenny và 5 người con trở về thị trấn Malahide đoàn tụ với nhau nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 75 của Sonny. Trong dịp này Jenny đã được cậu con cả, nay đã 75 tuổi dẫn đến thăm mộ phần của nàng kiếp trước. Nàng đã nói trước ống kính thu hình và trước phần mộ nàng rằng: "mộ phần này không có gì cả, không có ai ở đây bây giờ. Có thể còn trong đó là những nắm xương khô. Thực sự không có gì cả, phần năng lực tinh thần hiện đang ở trong tôi."

   Quả vậy, kiếp sống con người trùng trùng duyên khởi, không có bắt đầu và cũng không có kết thúc. Chúng ta đã bao nhiêu lần sanh ra và chết đi, đã bao nhiêu lần lặn ngụp trong biển sinh tử luân hồi, đã theo nghiệp sinh nơi này nơi khác. Trong giòng đời vô tận ấy, chúng ta đã liên hệ với biết bao nhiêu người, giàu nghèo, sang hèn, xấu đẹp và biết đâu họ chẳng là cha mẹ, là ông bà, là anh em, là những người thân của chúng ta và ngày nay nhờ có những máy điện toán tối tân, các nhà toán học và nhân chủng học đã cho chúng ta biết rằng mỗi chúng ta có tới 68 tỷ cha mẹ ông bà từ quá khứ đến hiện tại và tất cả nhân loại đều là anh em họ hàng của chúng ta. Nhận được sự liên hệ ấy, chúng ta cảm thấy dễ thương, dễ hiền hòa và dễ tha thứ trong sự giao thiệp hàng ngày với mọi người.

  Tâm Diệu ( thuật theo tài liệu của chương trình 20/20 ABC ( American Broadcasting Corporation ) phát hình vào lúc 10 giờ đêm thứ sáu 10 tháng 6 năm 1994 )

 


  


   CHUYỆN TÁI SINH CỦA SAMTEN

   Thượng tọa Thubten Zopa Rinpoche, sáng lập viên Hội Bảo Vệ Truyền thống Phật giáo Đại thừa (năm 1975, văn phòng trung ương đặt tại bang California, Hoa Kỳ). Hiện tổ chức này có gần một trăm chi nhánh trên khắp các châu lục. Vừa qua, một tu viện tại Nepal đã cử hành lễ "thụ phong" cho một chú bé 4 tuổi mà giới PG Tây Tạng xem đây là người tái sinh của cụ bà Amala (cố mẫu thân của Thượng tọa Thubten Zopa Rinpoche). Dưới đây là bài viết của Sư Cô Robina Courtin, người Hoa Kỳ, đúc kết lại những gì đã nghe và thấy về cuộc "hành trình chuyển tiếp" khá lý thú này. 

   "Tôi đã tìm thấy được mẹ tôi", Ngawang Samten, chị của Thượng tọa Zopa, la lên một cách vui sướng khi vừa gặp lại cô Merry Colony (người Anh), vào tháng 8 năm 1993, sau 2 năm vắng mặt từ ngôi làng bé nhỏ, nằm trong vùng núi đá lởm chởm thuộc vùng Khumbu, nước Nepal. 

   Trong thực tế, cụ bà Amala, bà thân sinh của Thượng tọa Zopa Rinpoche, được rất nhiều người biết đến, đã qua đời vào đầu năm 1991. Merry nghĩ rằng chắc Ngawang Samten muốn ám chỉ một điều gì đó có liên quan đến sự tái sinh của cụ Amala. Merry rất thân với cụ Amala và Ngawang Samten trong dịp cô đến tu thiền trong một hang động gần đó và thường đến thăm họ ở chùa Lawudo. cả hai đều là nữ tu, công việc chính của họ là chăm sóc các hang động và ngôi chùa này. Họ đến đây từ Thami, Tây Tạng. 

   "Gia đình tôi rất nghèo", Ngawang Samten nhớ lại, "bố tôi qua đời lúc em trai tôi Sangye còn trong bụng mẹ. Mẹ tôi suốt ngày đi chặt củi đổi lấy gạo để nuôi cả gia đình. Bà chỉ kiếm vừa đủ để nuôi anh em chúng tôi và bà thường lượm những mảnh vải người ta vứt trong thùng rác để may áo quần cho chúng tôi". 

   "Và bà ta thường đến biên giới Tây Tạng (hai ngày đi bộ) mua muối", Merry nói, "đem về bán cho người ở trong làng. Bà cụ là một người nhỏ nhắn nhưng rất khỏe mạnh, bà đã làm mất đi nhiều ngón tay của mình khi chặt củi. Giống như nhiều người ở miền núi, bà cụ không biết chữ, bà cũng không biết nhiều về giáo lý. Nhưng bà tin tưởng đức Bồ Tát Quán Thế Âm và siêng năng thọ trì câu thần chú "Án ma mi bát di hồng" trong mọi lúc, mọi thời. và bà cụ rất tận tụy với các Tăng Ni. Mỗi ngày bà đều chăm sóc hang động, quét dọn, cúng dường hương đăng trên các bàn thờ". 

   Gần đây, Thượng tọa Zopa Rinpoche cũng cho biết rằng: "Sau khi làm xong mọi việc trong chùa mỗi ngày, bà cụ đều đến đảnh lễ Phật và cầu nguyện cho tôi. Bà cụ nói là bà cầu nguyện cho tôi 3 lần trong một ngày-sáng, trưa và buổi tối".  

   "Mẹ cầu nguyện những gì?", tôi hỏi bà cụ, "bà nói rằng bà chỉ cầu mong chư Phật gia hộ cho tôi vượt qua mọi chướng ngại trên con đường tu học của mình" .

   Vào tháng 12 năm 1990, cụ Amala muốn đi thăm đức Đạt Lai Lạt Ma (ở Ấn Độ) trước khi cụ qua đời. Già và yếu, nhưng bà vẫn cố gắng băng núi đèo để đến Kathmandu, và rồi đến đỉnh Sarnath (Bắc Ấn), đi cùng với bà có cậu út Sangye và Ngawang Samten. 

   "Đó là ngày trăng tròn tháng Giêng năm 1991", Sangye nhớ lại, "cũng là ngày cuối cùng của khóa tu mật tông Kalachakra. Suốt ngày hôm đó, cụ Amala, chị Ngawang và tôi đã dự lễ điểm đạo của đức Đạt Lai Lạt Ma. Sau đó chúng tôi trở lại túp lều và cụ Amala bảo: "mẹ muốn nghỉ ngơi, đừng quấy rầy mẹ". 

   "Chúng tôi linh cảm là có một điều gì đó sắp xảy ra, chúng tôi vây quanh giường của cụ khoảng mấy phút sau, cụ trở mình nghiêng bên phải và rồi "mất" tại đó. Khuôn mặt của bà như đang ngủ". "Bà cụ vẫn nằm trong tư thế "kiết tường" như vậy trong 3 ngày, nét mặt đẹp hơn, sáng hơn. Chúng tôi không chạm đến thi thể của cụ cho đến chiều ngày thứ 3, nét mặt vẫn không thay đổi. Chúng tôi tiến hành tang lễ và hỏa táng sau đó. Có hơn 200 Tăng Ni và Phật tử đến dự". Rõ ràng vào ngày cụ Amala qua đời là ngày trăng tròn, người dân trong vùng Lawudo (ở Nepal) nhìn thấy một con chim ưng lông trắng bay lượn ba vòng ở trong vùng rồi sau đó bay về hướng Đông Tây Tạng. Sau này họ nói với tôi về điều đó, họ nói là họ rất ngạc nhiên. 

   Trên đây là toàn bộ câu chuyện mà Ngawang đã kể cho cô Merry nghe, khi cô đến thăm Lawudo vào tháng Tám năm 1993. 

   Vào đầu tháng 7 năm đó (1993), Ngawang Samten hay tin một người bạn láng giềng của chị là Lhakpa bị tai nạn, vì thế chị quyết định đi thăm cô ta. Ngawang không gặp cô ta từ khi cụ Amala qua đời. Gia đình cô dời về ở một ngôi làng Genukpa cách chùa Lawudo khoảng mười lăm phút đi bộ. 

   Đó không phải là nơi gần với Lawudo, nên Ngawang Samten và Lhakpa ít khi gặp nhau. Lhakpa bị thương ở chân nhưng không nặng lắm. Cô ta rất mừng khi gặp lại Ngawang Samten. Lhakpa có 4 đứa con, đứa nhỏ nhất là một cậu bé được sanh sau khi cụ Amala mất vài tháng ở Ấn Độ. Lhakpa bắt đầu nói với Samten về đứa con trai út của mình. Nó là một đưá trẻ thông minh lạ thường, cô ta nói, từ khi nó tập nói lúc 2 tuổi, chú bé thường nhắc đến chùa Lawudo, một ngôi chùa mà chú chưa từng biết đến bao giờ. Vì thế, điều này làm cho cô ta và cả gia đình rất kinh ngạc. 

   Và khi Ngawang Samten gặp riêng chú bé, chú dường như nhận ra chị, và chú yêu cầu chị đưa chú đi thăm chùa Lawudo. Chú bé là một đứa trẻ đẹp và khỏe mạnh, chú bày tỏ sự quen thuộc đối với Lawudo - nhắc đến tên của 3 con bò chẳng hạn. Và chú tiếp tục nói là chú muốn đi đến đó: "Đó là nơi mà cháu đã từng sống", chú nói. Ngawang Samten rất ngạc nhiên và chị bắt đầu đến thăm chú bé thường xuyên hơn và luôn luôn tìm thấy những điều tương tự. chú yêu cầu chị: "Hãy đưa cháu về Lawudo đi".

   Một điều đáng chú ý hơn, là chú thường nhắc đến Sangye, Thượng tọa Zopa Rinpoche và ngôi tu viện Kopan của Ngài, trong khi tu viện đó ở dưới thung lũng Kathmandu. "Cháu tự hỏi không biết khi nào Thượng tọa và Sangye sẽ đến thăm cháu", chú nói. Ngawang Samten đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi chú đưa ra những thông tin mới hơn: "con đường đi đến tu viện Kopan rất xấu, có lẽ họ đang bận rộn sửa sang lại nó". Rõ ràng, đó là sự thật. Chú bé cũng thường bày tỏ ý định muốn đến Kopan một mình. 

   Một ý tưởng nảy sinh, phải chăng chú bé này là một bằng chứng tái sinh của mẹ chị? Ý tưởng đó đã ngự trị và trở nên rối bời trong đầu óc của Ngawang Samten nghĩ rằng mình không thể ngạc nhiên và bỏ qua cơ hội này và chị quyết định trắc nghiệm chú bé. 

   Cuối cùng, chị đưa chú bé về thăm chùa Lawudo. Ngay khi bước vào phòng ăn, chị nhớ lại "chú bé bắt đầu mô tả nhà bếp, những băng ghế, cái lò sưởi và điều đáng chú ý là chú chạy lên chánh điện và đi kinh thành mấy vòng giống như cụ Amala đã từng làm, dù ở đây chú hay bị vấp và té, bởi vì chú nhỏ quá". 

   Ngawang Samten cùng kiểm tra với Hòa thượng Wangchuk, một Lạt Ma địa phương lừng danh trong việc quan sát các trường hợp như thế. Và Ngài đã xác nhận chú bé này đúng là người tái sinh của cụ Amala. 

  Thích Nguyên Tạng dịch  
( Theo tạp chí Mandala,tháng 11/1997)







     BẰNG CÁCH NÀO ĐỂ BIẾT MỘT NGƯỜI SAU KHI CHẾT SẼ  THÁC SANH VÀO CẢNH GIỚI NÀO?

   Y cứ qua kinh nghiệm của các bậc Cổ Đức:
   Theo  kinh nghiệm của Cổ Đức chỉ dạy, khi người mới chết trong vòng vài tiếng đồng hồ trở lại, muốn biết họ thác sanh về cảnh giới nào, thì người nhà có thể lấy tay sờ vào những nơi ứng nghiệm như sau:
1.     Nếu toàn thân lạnh hết mà chỉ có trên đảnh đầu còn nóng, thì biết rằng người đó sẽ sanh về cảnh giới Phật.
2.     Còn như nóng ở nơi con mắt, thì biết người đó sẽ sanh về cõi trời.
3.     Nóng ở ngực, thì sanh lại cõi người.
4.     Nóng ở bụng, thì sanh về ngạ quỷ.
5.     Nóng ở đầu gối, thì sanh vào loài súc sanh.
6.     Nóng ở dưới lòng bàn chân, thì sẽ sanh vào địa ngục.
 Do sự ứng nghiệm đó, nên Cổ Đức có làm bài kệ tóm tắt cho chúng ta dễ nhớ :
   Đảnh Thánh nhãn sanh thiên
Nhơn tâm ngạ quỷ phúc
   Bàng sanh tất cái ly
   Địa ngục khước môn xuất
Tạm dịch:
   Thánh đầu, trời tại mắt
   Người tim, ngạ quỷ bụng
   Súc sanh hai chân xuống
   Địa ngục bàn chân ra.

 



  



     KHI RỜI THỂ XÁC, LINH HỒN NHẸ NHÀNG NHƯ BAY

     Cuối tháng 4 năm 1987, người ta chở bà Mary Houghton, 68 tuổi vào bệnh viện Boston vì chứng đau tim. Bệnh nhân ngưng thở lúc 6 giờ tối, mọi cứu chữa đều vô hiệu và bác sĩ tuyên bố bệnh nhân đã chết. Xác bà được tạm đặt trong một căn phòng riêng chờ thân nhân đến làm giấy tờ tẩm liệm. Khoảng 11 giờ đêm, bà Houghton tỉnh lại bấm chuông gọi y tá. Bác sĩ trực đến khám và xác nhận bà lão đã hồi sinh. Trường hợp bệnh nhân tắt thở vài giờ sau lại sống dậy không có gì lạ lùng với y giới nhưng bà Houghton đã nhớ lại những diễn tiến sau khi chết và kể lại như sau:

 

   "Tôi đang ngồi ở nhà đọc báo thì thấy choáng váng, xây xẩm mặt mày và tự nhiên hôn mê. Khi tỉnh dậy tôi cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát, chung quanh tôi là một lớp sương khói dày đặc khiến tôi bỡ ngỡ không biết mình đang ở đâu. Tôi lên tiếng gọi nhưng vô hiệu. Tôi mò mẫm đi trong lớp sương mù đó được một lúc thì nhận thức rằng có lẽ mình đã chết. Tôi biết mình mắc chứng đau tim đã lâu, bác sĩ nói rằng tôi chẳng còn sống được bao lâu nữa nên tôi không lấy thế làm buồn. Ðiều bất ngờ là khi vừa chấp nhận điều này thì tôi thấy mình đang đứng ngay bên cạnh giường quan sát thân thể của tôi nằm bất động trên đó. Sau một lúc xúc động tôi cố gắng trấn tĩnh và tự chủ rằng mình sống như thế cũng là đủ rồi. Trong khi xúc động thì luồng ánh sáng bao quanh tôi trở nên đen tối, khó chịu, tôi có cảm giác như bị lôi kéo vào một vũng bùn nhầy nhụa, hôi hám. Tôi bèn lên tiếng cầu nguyện thì thấy trong mình dễ chịu lạ thường, lớp ánh sáng bao quanh dần dần trở nên quang đãng hơn.

   Một lúc sau tôi thấy thân thể nhẹ hẫng như có thể bay bỗng lên được. Tôi bèn để cho nó tự nhiên và thấy mình lơ lửng trên không nhìn xuống phía dưới. Lúc ở trên cao nhìn xuống, tôi thấy có một chùm chìa khoá màu đỏ của ai để trên nóc tủ thuốc. Tôi thầm nghĩ ai lại để chìa khoá ở đó làm chi ? Ðang suy nghĩ vẫn vơ thì tôi thấy mình đã đi xuyên qua trần nhà để lên lầu trên và thấy hai người y tá đang xem một trận đấu bóng rỗ trên ti vi, trận đấu vừa kết thúc khi đội Los Angeles Lakers thắng Boston Celtics, và một người y tá đánh cuộc thua phải trả cho bạn đồng nghiệp 20 mỹ kim. Tôi thong thả đi dọc theo hành lang bệnh viện và gặp rất nhiều người như tôi cũng đang lướt đi, không ai nói với ai lời nào. Ða số có vẻ vội vã, có người hoảng hốt là đàng khác. Tôi thấy một thanh niên đang đứng cạnh xác mình một cách đau khổ, tôi lên tiếng an ủi nhưng có lẽ anh không nghe được lời khuyên bảo của tôi. Vì một lý do gì không rõ, tôi hiểu ngay sự bận tâm của anh ta vì đã không hoàn tất được một số việc. Anh ta cố sức chui lại vào cái xác đã lạnh cứng nhưng vô hiệu. Anh đâm ra hoảng hốt khiến tôi cũng mất bình tĩnh theo nên tôi đành bỏ anh ta ở đó mà đi chỗ khác. Tôi nghĩ đến các con của tôi và lập tức thấy mình đang đứng trước mặt đứa con gái lớn. Con gái tôi đang khóc. Tôi muốn ôm lấy nó nhưng tiếng khóc của nó làm tôi thấy khó chịu. Mỗi khi trong người khó chịu thì lớp ánh sáng bao quanh tôi lại chuyển sang một màu đen tối, nhầy nhụa khiến tôi sợ hãi. Tôi cố gắng trấn tĩnh tâm hồn và nghĩ đến hai đứa con trai thì thấy mình đang đứng ngay bên cạnh chúng. Hai đứa đang bàn việc chôn cất cho tôi. Thằng Michael phàn này về việc tôi đã không chịu mua bảo hiểm nhân thọ.. Cả hai chỉ nghĩ đến số tiền mà chúng sẽ phải chi ra hơn là nhớ thương đến mẹ của chúng. Tôi không hiểu tại sao tôi lại có thể đọc rõ tư tưởng của các con tôi như vậy. Càng đứng đó tôi càng bực bội vì hai đứa cứ cãi nhau mãi về việc chôn cất và việc phân chia gia tài nên tôi lại bỏ đi. Tôi không biết sẽ đi đâu. Tôi chẳng có thân nhân hay bạn bè nào cả. Ðến lúc đó tôi mới bắt đầu nghĩ lại cuộc đời của mình. Hình như tôi đã sống một cách ích kỹ, không giao thiệp với ai và cũng không có ai là bạn thân thiết. Cả một quá khứ bỗng hiện ra trước mắt tôi như người đang xem phim chiếu bóng. Tôi thấy rất rõ những quyết định của mình, những lỗi lầm mà tôi đã tạo ra. Những việc mà tôi nghĩ là tầm thường, không đáng kể đều hiện ra rõ rệt và phản ảnh tâm trạng của tôi khi đó; vì sao tôi đã hành động như vậy; tại sao tôi lại làm việc đó... Hơn bao giờ hết tôi thấy mọi sự việc một cách khách quan vô tư chứ không chủ quan như trước. Tôi không hiểu tại sao mình lại có thể bình tĩnh nhận xét như thế được. Tôi bắt đầu cầu nguyện và tự nhiên thấy lớp ánh sáng bao quanh bỗng sáng chói một cách lạ lùng. Tôi thầm nghĩ phải chăng tôi có thể hành động khác khi xưa khi biết rõ những nguyên nhân, hậu quả việc làm của mình. Tất cả có thể quy về một điều duy nhất: Tôi là một người quá tự hào về mình, quá hãnh diện về những giá trị viển vông, tạm bợ mà không hề biết rằng những điều đó hoàn toàn vô giá trị khi người ta từ bỏ cõi sống này. Chính vì tự hào mà tôi đã khoác lên mình những mặc cảm tự tôn, coi thường người khác, bất chấp dư luận và nghĩ rằng tôi luôn luôn có lý trong mọi công việc. Hậu quả là tôi có một đời sống khô khan, không bạn bè thân thiết, ai ai cũng muốn xa lánh tôi, ngay cả những đứa con của tôi nữa. Phải chăng tôi có thể chuộc lại những điều đã làm? Chưa bao giờ tôi lại có ý nghĩ lạ lùng như vậy. Lần đầu tiên tôi hối hận một cách chân thành và tự nhiên tôi lên tiếng cầu nguyện.

   Tự nhiên tai tôi bỗng ù đi, luồng ánh sáng bao quanh tôi trở nên sáng chói một cách lạ lùng, tôi thấy bình tĩnh như có một sự an ủi lớn lao nào đó vừa đến với tôi, và tôi cương quyết rằng tôi sẽ chuộc lại những lỗi lầm khi xưa. Tôi chắp tay cầu nguyện Thượng Ðế hãy cho tôi một cơ hội nữa và luồng ánh sáng chung quanh tôi tự nhiên sáng chói một cách mãnh liệt khiến tôi phải nhắm mắt lại và bất chợt tôi nghe được các âm thanh quen thuộc. Tôi thấy mình đang nằm trên giường bệnh viện... Tôi đã tỉnh lại".

 

   Lời khai của bà Houghton đã được bác sĩ Elizabeth Kubler Ross kiểm chứng rất kỹ. Hai nhân viên trực trong bệnh viện xác nhận họ có đánh cuộc với nhau về trận bóng rỗ, kết quả trận banh xảy ra đúng như lời bà Houghton đã thuật lại. Hai đứa con trai của bà Houghton cũng xác nhận họ đã cãi nhau về việc bảo hiểm và tiền chôn cất. Ðiều bất ngờ là một bác sĩ trực đánh mất chùm chìa khoá xe hơi màu đỏ từ mấy tuần trước, nhờ lời khai của bà Houghton mà ông nhớ rằng trong lúc vội vã, ông đã ném đại nó lên nóc tủ thuốc. Chiếc tủ này rất cao, gần chạm đến trần nhà, một người đúng dưới đất không thể nhìn thấy nó được nên mặc dù tìm kiếm mãi mà vẫn không ai thấy... trừ khi họ đứng trên trần nhà nhìn xuống.



 



    LÀM THẾ NÀO ÐỂ TIẾP XÚC VỚI NGƯỜI CHẾT

   ...Chúng ta đang sống ở thời kỳ khoa học và không chấp nhận những ý tưởng vu vơ, hoàn toàn trái với lý thuyết khoa học cũng như trái ngược với những lời dạy bảo đầy bác ái, nhân từ và sáng suốt của đấng Cứu Thế. Chúng ta những linh hồn đang sống trong cõi vật chất và chỉ biết đến những sự kiện liên quan đến cõi vật chất này mà thôi. Tất cả mọi sự hiểu biết của chúng ta đều dựa trên những giác quan của thể xác. Nhưng các giác quan này thì bất toàn. Thí dụ như chúng ta có thể thấy được những vật thuộc thể lỏng hay thể rắn nhưng lại không thể thấy được thể hơi mặc dù chúng ta biết rằng thể hơi hiện hữu. Hiển nhiên nếu có những thể khác thanh nhẹ hơn thể hơi thì làm sao chúng ta có thể thấy được. Nói tóm lại, vì giác quan của chúng ta bất toàn mà chúng ta không thấy được một số dữ kiện, tuy nhiên chúng ta không thể kết luận vì không thấy được mà chúng không hiện hữu. Người Phương Ðông đã ý thức được điều này từ lâu qua các công phu luyện tập đặc biệt mà nhiều người cho là phi thường.

   Thật ra nguyên lý của nó rất giản dị. Người nào biết rèn luyện tinh thần, phát triển các "giác quan" của tinh thần thì họ sẽ có các quyền năng về tinh thần. Nếu các bạn biết rằng thể tinh thần cũng giống như thể vật chất (thể xác), đều có những giác quan riêng biệt thì bạn sẽ hiểu điều tôi nói. Nếu thể xác có thị giác thì thể tinh thần cũng có một thị giác tương tự, nhưng đây là một thứ thị giác đặc biệt, có thể nhìn thấy những cái mà nhãn quan của thể xác không nhìn thấy được. Người Tây Tạng gọi quyền năng này là Thần Nhãn hay là con mắt thứ ba (Third eyes). Sách vở huyền môn Tây Tạng nói rõ rằng, thể tinh thần có những giác quan tương ứng với những giác quan của thể xác nhưng bao trùm một giới hạn bao la, rộng rãi hơn nhiều. Các danh sư Tây Tạng gọi đó là các năng khiếu mà con người có thể sử dụng được nếu họ biết cách chủ trị tinh thần, khai triển các giác quan này. Dĩ nhiên những người đã khai mở những quyền năng đó có thể ý thức được nhiều điều mà người thường không thể biết được.

   Chính nhờ khai mở được các giác quan đặc biệt này mà các danh sư Tây Tạng đã nghiên cứu về đời sống cõi giới bên kia, cõi giới mà chúng ta thường gọi là "cõi chết" hay "bên kia cửa tử". Họ xác định rằng chết không phải là sự chấm dứt của kiếp sống mà chỉ là một bước đi từ giai đoạn sống này qua giai đoạn sống khác. Xác thân phục vụ tinh thần và là một phương tiện liên lạc (communicate) với cõi trần. Nếu không có xác thân thì phần tinh thần không thể liên lạc được với cõi trần được và dĩ nhiên không thể ảnh hưởng hoặc thọ lãnh ảnh hưởng của nó. Cõi trần là một trường học hết sức quan trọng để linh hồn học hỏi, kinh nghiệm; và những điều học hỏi đều được lưu trữ trong ký ức tâm linh, một thứ ký ức vô cùng giới hạn. Chỉ riêng ở cõi trần người ta mới có thể thực sự học hỏi và áp dụng hay thực hành những điều đã học. Ở những cõi khác, vì sự cấu tạo của nguyên tử quá thanh, quá nhẹ nên việc học hỏi chỉ có tính cách lý thuyết chứ không thể thực hành được.

   Ðiều chúng ta cần biết là những người mà ta cho rằng đã chết thực ra không hề chết, không hề lìa xa chúng ta. Vì một lý do mơ hồ mà người ta tin rằng chết là chấm dứt, là chia ly, sau đó linh hồn được lên thiên đàng hoặc xuống địa ngục rồi ở đó vĩnh viễn. Tác động của Thượng Ðế chắc chắn vô cùng huyền diệu, nhiều khi chúng ta không thể hiểu được nhưng không bao giờ trái ngược với định luật thiên nhiên. Khi một người cởi bỏ bộ áo choàng ra thì họ vẫn đứng ở chỗ củ chứ nào có thể biến mất được. Hình dáng của họ thay đổi phần nào nhưng chắc chắn họ không thể phút chốc biến ra người khác được. Vì thể xác đã bỏ lại nên bạn không còn thấy người đó nữa mà chỉ thấy cái thể xác bất động nằm ở đó thôi. Nhưng điều này không có nghĩa là người bạn yêu thương đã đi xa rồi.

   Khoa học đã chứng minh mắt của chúng ta chỉ đáp ứng được với một số rung động tối thiểu trong vũ trụ. Nếu sử dụng các dụng cụ tinh vi hơn, người ta có thể nhìn thấy được các sự rung động mà mắt thường không thể nhìn thấy như tia hồng ngoại, tia tử ngoại v.v... Nếu bạn tin rằng các giác quan của thể xác đã giúp bạn cảm nhận được những vật chất cấu tạo bằng nguyên tử của cõi hồng trần thì các giác quan của thể tinh thần cũng sẽ giúp bạn cảm xúc được các nguyên tử cấu tạo bởi cõi đó. Nhờ xúc giác, chúng ta có thể sờ mó các vật chất của cõi trần thì một thứ xúc giác đặc biệt của thể tinh thần cũng giúp chúng ta sờ mó được các vật chất cấu tạo bởi nguyên tử cõi này. Bạn đừng nghĩ rằng cõi tinh thần đó nằm đâu xa xôi, thực ra nó và cõi trần này ở cùng một chỗ, chiếm cùng một vị trí trong không gian và thời gian, nhưng vì cấu tạo bởi các nguyên tử khác nhau nên người ta không cảm thấy nhận được nó đó thôi. Quy tắc của điều mà khoa học gọi là "chiều không gian" (dimension) hiển nhiên đã vén lên một phần của sự bí mật này. Dĩ nhiên ngoài cõi tinh thần còn nhiều cõi giới khác nữa nhưng điều đó không quan hệ đến chúng ta hiện nay.

   Tóm lại, người mà bạn tưởng đã đi xa rồi thật ra vẫn ở bên cạnh bạn và có thể đứng sát kề vai với bạn nữa kìa. Dĩ nhiên bạn còn mặc một tấm áo choàng dầy, còn người kia thì đã cởi bỏ chiếc áo đó rồi, do đó bạn không còn nhìn thấy người ấy nữa nhưng người ấy vẫn còn nhìn thấy bạn vì sự rung động của các nguyên tử của cõi kia thanh nhẹ hơn nên có thể nhìn thấy được nhiều hơn.

   Trong khi ngủ, khi bạn tạm thời cởi bỏ bộ áo vật chất này ra thì bạn và người đó có thể tiếp xúc với nhau dễ dàng. Vì đa số mọi người thiếu sự chuẩn bị công phu hàm dưỡng tinh thần nên vẫn luôn luôn có một khoảng cách giữa tri thức của thể xác và thể tinh thần, do đó họ không thể nhớ lại được việc làm của thể tinh thần trong giấc ngủ. Hiển nhiên nếu chúng ta có thể nhớ trọn vẹn thì sự chết đâu còn nữa. Một số đạo sư phương Ðông đã tập luyện được công phu gìn giữ cái trí nhớ liên tục này mà giao tiếp với cõi tinh thần trong giấc ngủ hoặc khi hành thiền. Dĩ nhiên đôi lúc ngủ cũng có người nhớ lại một vài chi tiết trong lúc ngủ nhưng họ thường kết luận là chuyện chiêm bao vô giá trị. Một người biết đoán điềm giải mộng có thể nói cho họ biết nhiều điều lý thú mà họ không ngờ.

   Ðối với những người thân quyến vừa lìa đời, nếu họ ngủ được một giấc thoải mái thì khi tỉnh dậy họ đều có cảm giác an tĩnh, phúc lạc như vừa được gần người thương yêu. Ðiều này không lạ vì hiển nhiên họ đã tiếp xúc được với người thân trong giấc ngủ. Nếu bạn biết rằng cõi trần của chúng ta là cõi thấp, và cõi bên kia cửa tử vốn cao hơn thì hiển nhiên cõi cao bao trùm cõi thấp theo định luật thiên nhiên. Ở cõi tinh thần người ta có thể nhớ lại rất rõ ràng các chuyện gì đã xảy ra trong cõi trần. Cũng như thế, khi ngủ người ta có thể hồi tưởng được nhiều chuyện đã quên từ lâu rồi, vì không còn bị cản trở bởi các chướng ngại thuộc thể xác. Khi thức giấc, con người khoác lấy bộ áo vật chất, ký ức bị chi phối bởi các ảnh hưởng của thể xác, nó che khuất các linh năng cao hơn nên ít ai nhớ được điều gì rõ ràng. Các danh sư Tây Tạng chỉ dẫn rằng, nếu muốn chuyển đạt tin tức cho người quá cố, bạn có thể giữ trong tư tưởng điều bạn muốn nói thì chuyện đó sẽ xảy ra. Tuy nhiên bạn nên biết rằng ở cõi tinh thần, người ta có thể đọc được tư tưởng của người sống. Nếu người quá cố vẫn còn luẩn quẩn gần đó thì họ có thể đọc được tư tưởng của bạn dễ dàng. Ở cõi tinh thần, người ta không rảnh rỗi ngồi không mà có những việc khác để thi hành, do đó nếu có thể, bạn không nên làm rộn đến họ....

   Cho đến nay, tôi chỉ đề cập đến vấn đề tiếp xúc với người chết bằng cách vào thế giới bên kia trong giấc ngủ vì đó là đường lối tự nhiên thông thường. Dĩ nhiên vẫn có những đường lối khác thường và không tự nhiên. Có người chết tạm thời mượn lấy một hình thể khác trong chấc lát (trường hợp lên đồng, nhập cốt) hoặc sử dụng một hình nộm, một cái bóng, tạo ra bởi các nguyên tử vật chất, để tiếp xúc với người cõi trần. Ðây là những điều không đứng đắn, mơ hồ, khó kiểm chứng, dễ bị lợi dụng, có thể đưa đến sự bịp bợm, phỉnh gạt của một số thầy pháp, thực hành tà thuật. Do đó, theo sự nghiên cứu và hiểu biết của tôi, đây là điều nên thận trọng vì việc vong linh cố gắng liên lạc với cõi trần bằng cách này thường bắt nguồn từ những nguyên nhân đặc biệt. Có thể vì họ có điều gì oan ức cần biện bạch, hoặc các đau khổ lo âu cần được giúp đỡ. Trong trường hợp này, tốt nhất là ráng tìm hiểu xem họ muốn gì rồi chúng ta giúp họ giải quyết những việc đó sớm chừng nào tốt chừng nấy để tâm hồn họ được an tĩnh...

   Tôi mong bạn hiểu rằng sự chết không đem lại một thay đổi gì cho con người thật sự cả. Không thể nào một người vừa chết đã trở nên một vị thánh, hay một đấng thiên thần. Người chết không thể trở thành một bậc vĩ nhân hiểu biết tất cả mọi sự được, mà chỉ là một người giống như trước khi chết một ngày hay một vài giờ mà thôi. Hiển nhiên người đó cũng có tình cảm, kiến thức, sự hiểu biết; chỉ khác ở chỗ họ đã cở bỏ bộ áo mặc trên người ra, cởi bỏ gánh nặng trên vai (bệnh tật, mệt nhọc của xác thân) và có cảm giác thảnh thơi tự tại. Khi còn sống, ai ai cũng phải làm việc để giải quyết những nhu cầu vật chất như thực phẩm, nơi chốn cư ngụ, quần áo che thân, v.v... Tại cõi tinh thần, những thứ này trở nên vô dụng. Thể tinh thần không cần thực phẩm hay nơi chốn cư ngụ, do đó người ta dường như thoát được cái áp lực lớn lao về sự sinh sống. Ðây là cả một sự cởi bỏ gánh nặng rất lớn nên người ta thường thấy nhẹ nhàng, thoải mái.

   Theo các danh sư Tây Tạng, trong cõi tinh thần, không gian không còn là một trở ngại nữa. Người ta tự do di chuyển đó đây tùy theo ý muốn. Nếu thích phong cảnh, trời biển, họ tha hồ ngao du những chỗ nào đẹp đẽ nhất. Nếu thích mỹ thuật, họ có thể chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sẽ tài ba mà không phải chờ đợi xếp hàng hay mua vé vào cửa. Nếu thích âm nhạc, họ có thể di chuyển từ hí viện này đến hí viện khác để thưởng thức các khúc nhạc tuyệt diệu. Bất cứ thích điều gì họ có thể thưởng thức điều đó hết sức dễ dàng, miễn là những cái đó thuộc về phạm vi tinh thần hay xuất phát từ các tình cảm cao thượng. Tại sao ? Vì những thứ này không cần phải sử dụng đến một thể xác vật chất. Dĩ nhiên nếu điều họ thích là một thú vui dựa trên các cảm xúc của thể xác thì vấn đề hoàn toàn khác hẳn vì họ sẽ không thoả mãn được.

   Một người nghiện rượu sẽ không uống được rượu vì đâu còn xác thân nữa để mà uống. Cũng như thế một kẻ thèm ăn sẽ khổ sở, luôn luôn có cảm giác đói khát! Một kẻ tham lam, bỏn xẻn tiền bạc sẽ khổ sở vì không còn gì để chất chứa. Kẻ ham nhục dục sẽ điên cuồng vì thèm khát mà không được thỏa mãn. Người ghen tuông sẽ bị tình cảm dày vò, nhất là khi họ không còn xen vào công việc của người mà họ ghen tức được nữa.

   Tóm lại, sự khổ sở chỉ bắt nguồn từ những đam mê xây dựng trên căn bản xác thịt, trên thể vật chất. Nếu biết kiềm chế những cảm giác này thì họ bớt đau khổ hơn vì nguyên nhân của đau khổ bắt nguồn từ ham muốn. Khi hết ham muốn thì những đau khổ sẽ chấm dứt ngay.




  


   MA QUÁ GIANG

   Chuyện ma xin quá giang xảy ra không riêng gì tại một quốc gia nào. Nhiều tài liệu thu thập được từ những chứng nhân ở nhiều quốc gia khác nhau. Họ là những người đã thấy rõ hồn ma và cũng chính họ đã cho những ma đó đi một đoạn đường.

   Tại Việt Nam, không hiếm trường hợp đã xảy ra. Một vài thí dụ điển hình mà chúng tôi xin lược kể ra đây là những trường hợp hoàn toàn có thật do các nhân chứng trong cuộc kể lại:

   Ông Trùm Mày, nhà ở Nam Giao, Huế, chuyên nghề chạy xe kéo, loại xe này rất phổ biến khoảng thời gian 1939 đến 1945. Một đêm nọ, trời gần khuya, ông Trùm Mày định kéo xe về nghỉ nhưng tự nhiên thay vì kéo xe chạy về phía cầu Gia Hội để về Nam Giao (qua cầu Trường Tiền ), ông ta lại kéo xe chạy theo đường Hàng Ðường để về cống Kẻ Trài. Xe chạy một quảng, ông bỗng thấy một cô gái mặc bộ đồ trắng, đội nón lá vừa bước lên vừa đưa tay vẫy vẫy ra hiệu cho xe ngừng lại.

 

   Ông Trùm Mày vội vã ngừng xe, cô gái có vẻ hấp tấp vừa đi vừa chỉ về phía trước vừa nói, tiếng nói nhỏ như sợ có ai nghe: - Chở tôi về bến đò chợ Bao Vinh.

   Ông Trùm Mày cố định thần nhìn cho kỹ mặt cô gái nhưng vì tóc cô để xõa nên chẳng thấy rõ mặt mày. Ðiều ông làm lạ là cô gái mảnh mai quá nên nhẹ tênh, ông kéo xe mà cảm thấy như chạy xe không. Qua khỏi cống Kẻ Trài và chạy độ hai mươi phút nữa, ông nghe tiếng trống trời khuya vọng lại. Bất giác ông chạy chậm xe và ngoái cổ lại để hỏi chuyện cô gái, nhưng lạ lùng chưa, cô gái không còn nữa. Chỗ ngồi trên xe kéo trống không và yên lặng một cách dễ sợ. Ông Trùm Mày sợ quá đến nổi gai ốc toàn thân, ông cấm đầu chạy thục mạng về nhà.

   Sáng mai lại, ông đem chuyện lạ hồi hôm kể cho ông Lý Trưởng ở làng Bình An nghe. Người lão bộc trong nhà ông Lý Trưởng cho biết ở quảng đường gần cống Kẻ Trài đến bến đò Bao Vinh có một cái am nhỏ thờ cô gái bị chết trôi, trước đó độ 5 năm, cô gái này bị chết nơi bến đò gần cống Kẻ Trài, xác nổi lên và tắp vào bờ, vướng vào gốc và rễ những cây xanh già cỗi nơi bến và nhiều đêm hay xuất hiện than khóc hay chận đường người qua lại để hỏi thăm, chuyện trò hoặc xin đi nhờ nếu gặp ai có phương tiện chuyên chở đi qua đó.

   Theo người lão bộc ( ông Ngọng ) thì có lần hai người kéo xe bò qua đó cũng đã gặp cô gái từ dưới bến sông ( Ðông Ba ) đi lên xin đi nhờ một quãng đường. Khi xe đi được khoảng nửa tiếng, thì bỗng nhiên họ nghe một tiếng "Bõm" như có vật gì rơi xuống sông. Ngay lúc đó hai người đánh xe bò rởn tóc gáy vì cô gái trên xe đã biến mất tự bao giờ ( lúc đó khoảng một giờ sáng ).

   Ở Huế có một địa danh đặc biệt là Ô Hồ. Xóm Ô Hồ gần trường tiểu học Gia Hội (Huế). Anh Hinh trước ở làng Ðại Lược sau lên thành phố Huế làm nghề đạp xích lô. Chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1956. Ở Huế muà hè rất nóng, anh Hinh thường đạp xe đến quá khuya mới trở về nhà. Ðêm đó, theo lời anh kể hình như là đêm 13 âm lịch, trời đầy trăng sao. Lúc đó khoảng 12 giờ khuya, anh đang đạp xe đi từ từ qua khỏi trường tiểu học Gia Hội và định tới chỗ quẹo sẽ đạp xe về đường đi Mười Gian. Khi chiếc xe xích lô vừa đến ngã ba thì anh thấy một người đàn bà đứng ngay nơi chỗ quẹo và đưa tay vẫy vẫy xe anh. Anh Hinh vội vã dừng xe lại. Dưới ánh trăng, anh thấy rõ gương mặt người đàn bà, rõ đến độ anh thấy nổi bật những dấu sẹo do bệnh đậu mùa để lại trên gương mặt người đàn bà. Anh hỏi:

   - Chị về đâu?" Người đàn bà vừa trả lời vừa bước lên xe:

   - Cho tôi đến Chùa Bà.

   Khi xe sắp đến đường quẹo thì người đàn bà ra dấu ngừng xe và lấy trong ví ra hai tờ giấy bạc trao cho anh Hinh rồi lầm lũi đi vào một khu vườn to lớn trồng toàn là nhãn và vải. Anh Hinh nhìn thấy hai tờ giấy loại 100 đồng và lấy làm lạ vì số tiền quá lớn cho một cuốc xe quá ngắn đường. Hay người đàn bà đã đưa nhầm, tưởng đó là giấy 10 đồng, nhưng 10 đồng bạc cũng vẫn lớn đối với thời đó. Vốn là người lương thiện, anh Hinh nghĩ bụng đêm quá khuya, khu vườn nhà quá rộng và sâu hun hút không tiện vào kêu cửa, chi bằng sáng mai đạp xe ngang nếu thuận tiện ghé lại xem thử ra sao. Thế rồi anh ta cất kỹ hai tờ giấy bạc loại 100 đồng vào cái bóp để trong túi áo. Trước khi đạp xe về nhà, anh còn nhìn kỹ lại địa điểm mà người đàn bà có gương mặt rỗ hoa đã bước xuống xe để vào khu vườn sầm uất. Ðiều đáng nhớ là ngay tại chỗ đó có một cây vông đồng rất lớn.

   Sáng hôm sau, khoảng 10 giờ, anh Hinh đạp chiếc xích lô đến địa điểm hồi hôm. Anh dừng xe lại bên cạnh cây vông đồng. Khu vườn rộng âm u và yên tĩnh quá, anh đẩy xe vào vườn. Xa tít phía trong khu vườn là căn nhà xưa cổ, cửa đóng then gài. Có lẽ gia chủ đã đi vắng. Anh đẩy xe ra, quang cảnh yên lặng lạ thường, qua một giàn hoa lài rủ xuống thấp lè tè có một ngôi mộ. Ngôi mộ này được chôn trong vườn nhà. Trưa hôm đó, anh ghé lại cái quán cơm gần Ô Hồ để ăn trưa, khi mở cái bóp trả tiền anh ngạc nhiên không thấy hai tờ giấy bạc đâu cả. Tìm mãi cũng chỉ có những đồng bạc lẽ mà anh đã có từ trước. Nhưng trong ví lại có hai tờ giấy trắng dài bằng cỡ hai tờ giấy bạc.

   Anh ngẩn ngơ suy nghĩ. Bỗng nhiên một cảm giác lành lạnh chạy dọc theo đường xương sống... như có một linh tính vụt đến... anh hỏi ngay người bán quán về khu vườn nơi gốc cây vông đồng và ngôi mộ trong vườn thì người bán quán cho biết như sau:

   - Khu vườn đó là của ông Cả Ðễ. Ông có một người vợ bé, bà này ở chung với bà vợ lớn và bị bà vợ lớn của ông Cả Ðễ ganh ghét, hành hạ đủ điều. Cách đây hai năm, bà vợ bé bị bệnh đậu mùa, người trong nhà sợ bị lây bệnh tìm cách lánh xa. Sau đó bà vợ bé chết. Ông Cả Ðễ thương tiếc vô cùng, chôn ngay trong vườn. Hiện nay trong ngôi nhà ấy chỉ có một mình ông Cả Ðễ thui thủi sống qua ngày nhờ nhuận lợi thu hoạch trong vườn mà thôi. Bà vợ lớn thì đã bỏ vào Ðà Nẵng lấy chồng khác. Ông Cả từ đó có vẻ tàng tàng và mất trí...".

   Anh Hinh nghe đến đó thì tự nhiên tay chân run rẩy, mặt mày tái mét. Lúc bấy giờ anh mới kể hết mọi sự cho người chủ quán nghe. Sau cùng người chủ quán nói:

   - Như vậy là anh đã gặp đúng người vợ bé của ông Cả Ðễ rồi! Với lại gương mặt rỗ hoa thì chính là bà ấy rồi, nhưng lạy vong linh bà ấy, bà linh hiển quá, tuy rằng bà ấy trả cho anh hai tờ giấy bạc giả, nhưng theo ôn mệ (cha mẹ) tôi ngày trước thường kể thì những người đã giúp đỡ ma thường hay được phù trợ. Như anh đã có lần chở hồn ma bà vợ bé ông Cả, chắc anh cũng sẽ đắt khách cho coi...

 

****

   Nhiều người đi trên đường khuya vắng, đôi khi bắt gặp ma và có khi trông rõ như người thật nên đôi lúc lại không nghĩ rằng mình gặp ma...

   Dee Goss, người đã quả quyết mình trông thấy hồn ma đã mô tả lại như sau: "Tôi thấy con ma đội mũ trùm đầu, điều khủng khiếp là không có chân nên trông như lơ lững, trôi nổi dật dờ ngang qua con đường ngay trước mặt chúng tôi. Tôi đã thấy hình ảnh này rất rõ, có thể phân biệt từ chi tiết".

   Vào những năm 1976, 1978, hồn ma trên còn được thấy lại nhiều lần trên đường và mới đây một hình ảnh về hồn ma với mũ trùm đầu lại xuất hiện và nhiều người đã thấy rõ ràng ngay trên con đường vòng của xa lộ gần cầu Stocks ở phía Nam Yourkshire (Anh Quốc). Hai người tuần cảnh ban đêm đã thấy một hồn ma với mũ trùm đầu (giống như hình ảnh đã thấy ở nhiều nơi) trên cầu Pearoyd, ngoài ra có đêm một trong hai người lại còn thấy một hình ảnh lạ lùng kỳ dị khi giữa đêm khuya thanh vắng bỗng có ba đứa bé im lặng nhảy múa quanh cột điện cao thế.

   Trong Modern Mysteries of Britain còn ghi nhận những sự kiện đáng lưu ý về hồn ma xuất hiện trên đường, ở đây có sự khác biệt và linh hoạt hơn. Ấy là ma đón đường và xin quá giang (người Mỹ và người Anh thường gọi là Phantom Hitch Hiker). Sau đây là vài trường hợp có thật xảy ra :

   Năm 1951, tại Lakenheath, căn cứ không quân ở Suffok, một cảnh sát đã lái xe quanh căn cứ vào ban đêm và đã thấy một phi công trong bộ quân phục xuất hiện giữa đường và làm hiệu muốn quá giang xe. Người cảnh sát dừng xe lại để cho viên phi công bước lên. Viên phi công này xin mồi lửa điếu thuốc, một khi ngọn lửa từ hộp quẹt lóe lên thì viên phi công biến mất, người cảnh sát kinh ngạc và rợn tóc gáy khi thấy cái ghế ngồi trong xe, nơi mà viên phi công vừa ngồi trống rỗng một cách dễ sợ. Về sau, qua cuộc điều tra, người ta được biết ở góc căn cứ này trước đã xảy ra một tai nạn thảm khốc, một chiếc quân xa đã đâm sầm vào một viên phi công trẻ tuổi đang trên đường đi bộ đến căn cứ. Nhìn ảnh chụp người lính không quân này, người cảnh sát lái xe đêm ấy đã khẳng định rằng đó chính là người đã xin quá giang và đã biến mất sau đó.

   Trường hợp tương tự cũng đã xảy ra tại Oklahoma (Hoa Kỳ) vào mùa đông năm 1965. Lúc đó cô Mae Doria đang lái xe chạy trên xa lộ 20 hướng đông của đường Claremore thì gặp một cậu bé trạc độ 12 tuổi đứng bên đường đưa tay khoác khoác ra dấu chận xe lại, Mae hỏi cậu bé muốn về đâu, cậu bé đưa tay chỉ về phía trước và nói: "Nhà cháu ở đầu kia kìa". Cô Mae để cậu bé ra ngồi ở ghế sau, họ nói chuyện với nhau cho đến khi xe đến gần Pryor thì cậu bé ngỏ ý muốn xuống xe ở vị trí cống nước lớn gần đó. Khi đó Mea chạy xe chậm lại, cô lấy là lạ vì vùng này chẳng có nhà cửa gì cả còn cây cối thì lưa thưa, có nơi trơ trụi hoang vu vắng vẻ vô cùng. Khi đó, Mae Doria hỏi cậu bé: "Nhà cháu ở đâu?" cậu bé lại chỉ tay về phía trước và trả lời: "Nhà cháu ở đầu kia kìa!". Cô Mae Doria quay mặt về hướng mà cậu bé vừa chỉ nhưng chẳng thấy nhà cửa nào ngoài vùng đồng trống. Cô ngạc nhiên quay lại thì không thấy cậu bé ở trong xe nữa. Quá kinh ngạc cô vội ngừng xe lại. Vậy cậu bé ra khỏi xe khi nào? Cô Mae Doria cảm thấy hoang mang, cô cứ nghĩ là cậu bé đã nhảy ra khỏi xe rồi nhưng tại sao cửa xe vẫn còn đóng chặt? Cô lái xe chạy quanh nhiều vòng nơi vùng đồng trống cạnh xa lộ nhưng vô ích, hình bóng cậu bé vẫn biệt tăm... Ðiều kỳ lạ là lúc ấy cô không cảm thấy điều gì khiến phải lo sợ hay kinh hãi cả. Nhưng sau đó cô mới cảm thấy rờn rợn trong người.

   Hai năm sau, nhân lúc rảnh rỗi, gặp người đi thu tiền hơi đốt, cô Mae Doria kể cho anh ta nghe chuyện liên hệ đến việc cô gặp cậu bé quá giang và biến mất một cách lạ lùng ngày nào thì người này cho biết cậu bé mà cô gặp đã chở đi một đoạn đường là chuyện có thật và nhiều người lái xe qua đó cũng đã gặp trường hợp tương tự nghĩa là cậu bé xuất hiện xin quá giang xe về nhà nhưng nửa đường thì biến mất. Người đi thu tiền hơi đốt nói:

-         "Tôi đã nghe chuyện về cậu bé này từ lâu. Ðó chính là một hồn ma và sự việc này xảy ra từ lâu rồi, từ năm 1936 chớ không phải mới đây..."





   TRUYỀN KỲ NHỮNG HỒN MA TRINH NỮ

   Nhiều người khẳng định “có ma trong những ngôi biệt thự bỏ hoang” ở Đà Lạt! Chuyện về những ngôi nhà ma ở phố núi quả không ít và nếu ai đã một lần nghe kể dù gan đến đâu cũng phải rùng mình!

   Ông H.Đ.K, một cán bộ công chức ở thành phố mờ sương này nói như đinh đóng cột: “Biệt thự số 4 đường Thủ Khoa Huân có ma!” Trước đây, ông cùng đồng nghiệp đã ngủ trong ngôi biệt thự này, ban ngày thì không sao nhưng hễ đêm đến là nghe tiếng các khung cửa kính rung bần bật như đang bị gió bão thổi tung mặc dù bên ngoài trời im, gió lặng.

   Dù đã chèn tất cả cửa lại nhưng rồi tiếng động ấy vẫn cứ lặp đi lặp lại suốt đêm. Đây là ngôi biệt thự của một quan chức người Pháp, sau này được sử dụng làm dinh thự của tỉnh trưởng tỉnh Lâm Viên.

   Tầng hầm của ngôi biệt thự là nơi giam giữ, tra tấn các chiến sĩ cách mạng, trong đó không ít người đã chết vì đòn roi, vì bị bỏ đói… Năm 1975, trước ngày giải phóng Đà Lạt, có 2 thường dân leo lên tháp nước của ngôi biệt thự xem chiến sự thì bị địch bắn chết. Người ta cho rằng những hồn ma oan ức này đến giờ vẫn quanh quẩn bên tháp nước quậy phá.

   Cách đó mấy trăm mét, một ngôi biệt thự khác cũng “nổi tiếng” với những lời đồn thổi về ma. Đấy là ngôi nhà trước đây do người Pháp xây dựng, sau này liên quân Mỹ sử dụng làm kho quân trang, quân dụng, khi cách mạng tiếp quản, ngôi nhà được sử dụng làm trụ sở làm việc của thành ủy Đà Lạt, nay một công ty tư nhân phá đi để chuẩn bị xây dựng một siêu thị tầm cỡ đầu tiên ở phố núi.

   Không chỉ ban đêm mà ngay cả giữa trưa, nhiều người ngủ trên giường cũng bị ma kéo bỏ xuống sàn nhà. Người dân phố núi cho rằng đó là những oan hồn phiêu bạt về giành giường với người sống.

   Còn rất nhiều ngôi biệt thự ở phố núi được khoác trên mình những truyền thuyết về ma. Có thể kể đến ngôi biệt thự số 8 đường Quang Trung, biệt thự kiến trúc Pháp rất đẹp, một thời được sử dụng làm kho lương thực, nay là trụ sở tòa soạn báo Lâm Đồng. Có đêm, người nghe thấy tiếng dập cửa, tiếng khóc rên, tiếng trẻ con học bài ê a…


***

   Một ngôi biệt thự khác nằm trên đường lên thác Cam Ly, nay là trụ sở của Ban quản lý dự án du lịch Đan Kia – Suối Vàng, cũng có lời đồn là có ma. Ngôi biệt thự này do người Pháp xây dựng từ những năm đầu của thập niên 1930, một thời bỏ hoang, mái ngói xiêu vẹo, cửa nẻo tan hoang. Phía trước ngôi biệt thự có cây thông cổ thụ phải đến hơn 100 tuổi, nhánh cành sum xuê, xanh tốt đến lạ thường.

   Bà Phạm Thị Liên, một người dân ở gần kể: vào những đêm rằm thường có một ma nữ mặc áo trắng toát treo mình trên cây thông chải tóc, mái tóc đen nhánh chảy dài xuống tận mặt đường... Hồn ma này liên quan đến cái chết của một cô gái trẻ người dân tộc bản địa rất xinh đẹp, bị một gã sở khanh lừa tình nên treo cổ tự vẫn và hồn ma cứ quanh quẩn bên cây thông, những đêm thanh vắng thường hiện hình để chải tóc dưới trăng và chọc ghẹo người đi đường.

   Ly kỳ hơn là chuyện về ngôi biệt thự ma nằm trên lưng chừng đèo Prenn, tọa lạc bên triền đồi thoai thoải, ẩn mình trong rừng thông quanh năm vi vút gió. Ngôi biệt thự này cô quạnh quanh năm, gần như tất cả các khung cửa của ngôi nhà đều bị long bật, đổ vỡ. Bà Nguyễn Thị Nhiệm, người trông coi ngôi biệt thự kể, nhiều đêm không tài nào ngủ được vì tiếng cửa dập, tiếng gió hú như tiếng còi tàu nghe mà rợn tóc gáy…

   Nghe nói, chủ nhân của ngôi biệt thự trước đây là một quan ba Pháp. Vị quan này ăn chơi trác táng. Một lần ông ta mời một vũ nữ trẻ đến hầu rượu và ép cô quan hệ khiến cô gái phải nhảy lầu tự tử. Kể từ đó, ngôi biệt thự bắt đầu khoác lên mình một truyền thuyết ma quái. Đến những năm đầu của thập niên 60 thế kỷ trước, một cô gái trẻ khác không hiểu vì lý do gì đã tìm đến đây thắt cổ tự tử cũng ở cái tuổi trăng tròn.

   Bẵng đi một thời gian, người ta lại phát hiện ra hai cái xác khác nằm quắt queo trên tầng lầu của ngôi biệt thự. Chưa kể trên ngọn đồi phía sau ngôi biệt thự còn có mộ chôn 3 sinh linh bé nhỏ vừa chào đời bị bỏ rơi càng làm không gian thêm huyễn hoặc. Dường như còn những cái chết bí ẩn khác nhưng lâu rồi nên không mấy người nhớ nổi, khiến ngôi nhà ma này không chỉ nổi tiếng ở Đà Lạt mà còn cả miền Đông Nam Bộ.





   MA THƯỜNG XUẤT HIỆN TRONG NGÀY NGHỈ


    Các nhân vật của thế giới bên kia thường được mô tả rất bí ẩn, song, cuộc phỏng vấn mới đây của Pravda.ru với Leslie Rule, một chuyên gia nổi tiếng về ma, tác giả các sách best-seller về ma quỷ và linh hồn, đã tiết lộ nhiều điều thú vị.

   - Các bóng ma thường xuất hiện khi nào?

   Một bóng ma có thể xuất hiện ngày hay đêm. Họ thường có mặt trong khoảng thời gian từng có nghĩa với họ khi họ còn sống. Chẳng hạn, nếu thường rời công sở về nhà lúc 2h chiều, họ có thể hiện ra gần cổng vào ngôi nhà cũ lúc 2h chiều.

   Các linh hồn thường được nhìn thấy trong ngày nghỉ và những kỳ nghỉ lễ cũng như các dịp tình cảm khác.

   Mặc dầu ma có thể xuất hiện bất cứ đâu, song người chứng kiến thường thông báo nhìn thấy nó ở các địa điểm sau: Đang nhìn vào cửa sổ, trên bậc cầu thang, ở hành lang, ngồi trên một cái ghế hoặc trên giường, và trong gương!


   - Nên đối xử như thế nào nếu thấy ma?

   Một bóng ma đơn giản là một người hoặc một con vật không còn cơ thể nữa. Nếu nhìn thấy một bóng ma, bạn có thể yêu cầu nó những gì bạn muốn. Nhớ rằng họ không nhận thức được họ đã chết. Giải thích nhẹ nhàng rằng họ không còn sống nữa, và đề nghị họ bước ra ánh sáng, nhờ thế ta có thể nhận ra họ là những người thân yêu đã qua đời.

   - Có cách nào để đuổi ma khỏi nhà?

   - Để xua đuổi ma, đôi khi tất cả những điều phải làm là yêu cầu họ rời đi. Nếu không hứng thú với việc các linh hồn chia sẻ nhà mình, tôi khuyên nên cầu nguyện cho sự khuây khoả.

   - Có những con ma hung hăng và nguy hiểm không?

   Tôi chưa bao giờ nghiên cứu trường hợp nào mà người sống bị ma gây hại về cơ thể. Nếu ai đó bị thương khi ma xuất hiện, đó có thể là do họ đã vấp ngón chân cái khi bỏ chạy. Tôi nghi ngờ khả năng ma có thể làm tổn thương thể chất một ai đó.


   - Phải chăng hầu hết các lâu đài cổ đều bị ma ám?

   Ma thường xuất hiện ở những nơi từng xảy ra cái chết, đặc biệt là những cái chết bạo lực. Vì hầu hết các lâu đài cổ đều có một lịch sử chết chóc kèm theo chúng, nên đó là nơi các linh hồn hay quấy quả. Và câu trả lời ở đây là đúng vậy, hầu hết các lâu đài cổ đều có ma.


   - Có thể bắt ma được không?

   Không, tôi không nghĩ vậy. Ma không bị hạn chế bởi thế giới vật chất. Chúng có thể đi xuyên qua tường.


   - Làm thế nào để phân biệt ma thật và ảo giác?

   Khi một người khoẻ mạnh, hoàn toàn tỉnh táo và không bị say rượu nhìn thấy một bóng ma, đó thường không phải là ảo giác. Khi có hơn 1 người chứng kiến và mô tả theo cùng một cách, thì con ma đó có thực. Đôi khi người chứng kiến được xem các bức ảnh sau khi đã nhìn thấy ma và nhận ra bóng ma họ đã bắt gặp từng là một người sống trong bức ảnh. Điều này càng khẳng định đó là ma thực. (Luôn nhớ rằng các linh hồn thường xuất hiện trong những giấc mơ. Người ta tin rằng đó là thời điểm con người nhạy cảm nhất với thế giới tâm linh). 


   - Có những dạng hoạt động siêu nhiên nào khác có thể xuất hiện trong cuộc sống của chúng ta?

   Hàng triệu người thông báo đã nhìn thấy các thiên thần. Những linh hồn đáng yêu này chăm sóc con người và giúp họ khi cần thiết. Thiên thần có thể xuất hiện trong nhiều dạng, thường là giống hệt như người. Họ cũng có thể    trông như trong các mô tả truyền thống, với tóc vàng và đôi cánh trắng.

   Trong khi ma là phần hồn của một người đã chết, thì các thiên thần được xem là các linh hồn chưa bao giờ của ai cả.


   - Tại sao ông quyết định trở thành một chuyên gia về các hoạt động huyền bí?

   Tôi lớn lên trong một ngôi nhà có ma. Nó được xây trên một ngôi mộ của một người Mỹ bản địa. Mặc dầu hiếm khi ma được nhìn thấy ở đây, song lại được nghe thấy rất rõ. Tôi từng nghe thấy bóng ma của một phụ nữ nức nở như thể trái tim đang tan vỡ. Thực tế, những người hàng xóm của tôi đều nghe thấy tiếng cô ấy, như thể cô ấy đi lang thang để tìm kiếm thứ gì đó.

   Điều này đã mê hoặc tôi tìm hiểu về ma. Tôi muốn biết mọi thứ về họ. Tôi cũng muốn chứng minh sự tồn tại của họ.

   T. An






  

   KHI CHẾT TA MANG THEO ĐƯỢC GÌ ?

   Bà Dianne Perry, sinh trưởng tại Anh quốc ( người mà sau này trở thành nữ tu Phật giáo nổi tiếng thế giới, người đã trải qua 12 năm tu khổ hạnh nơi rặng tuyết sơn của Hymalaya ) lúc mới 12 tuổi đã có lần thấy một người vô gia cư chết bên gầm cầu. Cảnh sát lục lọi cái xách rách nát của người chết ấy chỉ thấy một cái bát một cái muỗng và vài đồng xu. Hôm đó trở về nhà, tuy nhỏ tuổi mà cô bé Diane Perry đã hỏi mẹ một câu đầy vẻ triết lý:

   “Mẹ ơi! Tại sao người ta chết đi không đem theo được gì cả? Hôm qua con thấy một người chết bên gầm cầu, người ấy rất nghèo, chỉ có cái bát, cái muỗng và mấy đồng xu. Chỉ chừng ấy thôi mà khi chết người ấy vẫn để lại không mang theo sao?”

    Bà mẹ của Diane ngạc nhiên vì câu hỏi lạ lùng ấy và đã trả lời con: “Không con à! Khi chết không ai đem theo được bất cứ cái gì. Dù vua chúa, người giàu sang hay kẻ nghèo hèn… một khi đã chết thì không đem theo của cải vật chất nào cả.”

   Qua câu chuyện trên ta thấy rõ ràng trong thực tế có vô số người giàu có sống trên của cải nhưng khi họ chết đi, hai tay buông xuôi thì họ trở thành tay trắng vì không mang theo được dù một chút của cải vật chất nào. Sự kiện thực tế ấy từ lúc con người xuất hiện trên quả đất cho đến nay đều thấy rõ không ai chối cải. Ấy vậy mà từ xưa tới nay có biết bao người quyết chí làm giàu, lúc nào cũng mong tiền bạc đến với mình không dứt. Họ sống vì tiền, vui thú vì lo thu nhặt tiền bạc vào cho đầy túi nhưng không bao giờ chấm dứt được cái ham muốn ấy vì lòng tham quá mức. Đến khi xuôi tay thì tất cả tiền bạc của cải ấy đều để lại thế gian còn họ thì nằm dưới lòng đất lạnh.

   Có biết bao nhà triệu phú, tỷ phú sống trên của cải, có người hằng chục tỷ mỹ kim, khi chết không mang theo được một cent nhỏ. Ngay khi đang làm giàu họ luôn luôn phải phấn đấu tranh dành, mưu lược để chống chọi lại với những gì bất lợi đến với mình. Do đó, tâm hồn những người giàu có thường bất an hồi hộp, lo lắng, mệt trí vì tính toán… không những thế họ thường keo kiệt, không dám giúp đỡ ai vì sợ số tiền có được của mình hao hụt đi. Có người, ngay chính bản thân họ cũng không dám ăn tiêu, huống hồ là nói đến chuyện giúp đỡ kẻ khác. Ngày nay, cũng có nhiều đại phú gia, nhiều người giàu có, tất cả đều bị như thế nhưng không ai chịu tìm hiểu xem mình phải làm gì lúc đang sống trên đời.

  

   Phài làm gì lúc đang còn sống trên đời ?

   Vậy khi đang còn sống nên cõi đời nay thì ta nên làm gì?

   Chúng ta có rất nhiều cách làm, nhiều cách hành động và suy nghĩ tốt lành nhưng vì quá bận rộn với cuộc sống đầy bon chen, đầy tham lam, đố kỵ mà ta không thực hiện được. Trước hết là cố gắng bỏ bớt dần “cái ta” của mình đi. Vì cái “ta” mà mình khổ, mà mình tự ái, lo toan, ích kỷ, tự phụ, sân si, sầu hận. Cái “ ta “càng giảm thì tình thương bao la dễ nẩy nở. Tình thương đây không phải là tình thương đầy vị kỷ mà rộng rãi hơn, vị tha hơn. Đó là tình thương đồng loại thương người. Vì mỗi con người “đều là những kẻ đáng thương” – mà có khi còn đáng thương hơn mình nữa. Kinh Unanda có ghi câu “ ví dầu ai có đi khắp bốn phương trời cũng không thấy ai là kẻ đáng thương hơn mình. Ấy vậy là mình thương mình. Mình đã thương mình thì cũng đừng nên làm phiền người.” Ta không những không làm phiền người mà còn phải thương người nữa. Nhờ “tình thương” mà thân tâm con người được an lạc. Khi ta mang tình thương đến cho người khác thì chính là tự mình mang “hạnh phúc” đến cho chính mình.

   Có thể lúc đầu vì “cái ta” quá lớn nên ta không thể thực hiện và cảm nhận được điều đó vì khi cho, khi mang tình thương hổ trợ người khác ta thường hay nghĩ lại, hay tiếc rẽ, ân hận nên không cảm thấy được sự hạnh phúc vui sướng đến với mình.

  

   Có phải khi chết, không mang theo được gì hay không?

   Trở lại vấn đề khi chết không mang theo được gì, nhiều người đã nhận thức rõ điều ấy, và đó là một sự thật hiển nhiên mà từ cổ đại tới nay, mọi người trên quả đất đều thấy và biết.

   Tuy nhiên, đối với Phật giáo thì khi chết mỗi người đều có mang theo “cái” mà không ai thấy hay biết “cái” mang theo đó là “cái nghiệp” của chính họ. Cho đến nay, sự kiện gọi là “ nghiệp quả “ hay “ nghiệp báo “ vẫn còn gây nhiều thắc mắc khó hiểu mặc dù số lượng người tin vào “ nghiệp (Karma) “ và nhất là tin vào vấn đề có sự tái sinh ở kiếp sau ngày càng gia tăng thấy rõ tại các nước Âu Mỹ.

  

   Nghiệp là hậu quả của kiếp trước?

   Tái sinh vào kiếp sau tức là sau khi chết sẽ lại hóa sanh trở lại qua một kiếp đời khác. Như vậy, khi một người nào đó chết đi thì thật sự người đó không chết, vì chỉ cái thân xác tan rã mà thôi còn cái tinh anh vi diệu của người ấy (con người, thường gọi là “ hồn “hay “linh hồn “ ) lại chuyển qua một đời sống mới qua một thân xác mới. Sự luân chuyển từ kiếp này qua kiếp khác gọi là sự luân hồi. Mỗi giai đoạn sống trong sự chuyển hoá luân hồi ấy gọi là mỗi kiếp. Mỗi kiếp người đều phải chịu hậu quả của những hành động gây ra từ kiếp trước – tạo ra các nguyên nhân hay có thể gọi là cái nghiệp. Đó là luật Karma hay còn gọi là luật “quả báo” hoặc “ nghiệp báo “. Sự luân chuyển từ kiếp này qua kiếp khác gọi là “ luân hồi “ .

  

   Người chết  chỉ mang theo “cái nghiệp” của họ dể tạo quả cho kiếp sau…

   Để hiểu rõ giai đoạn này, ta hãy bất đầu khi một người chết đi, họ trở thành bất động. Sở dĩ xác thân khi chết bất động vì thật ra nó chỉ là một khối vật chất bình thường trong tự nhiên mà thôi.

   Nó như cái áo mặc, khi chết chính là lúc trút bỏ cái áo ấy. Khi sống, xác thân cử động được là nhờ có sự hổ trợ hợp đồng của các giác quan như thấy, nghe, nhận biết, ngửi, nếm, suy nghĩ tính toán… Khi chết, thân xác bất động thì các giác quan ấy cũng mất luôn.

   Tuy nhiên có 2 thể vật chất đặc biệt không bị mất đi, vẫn còn tồn tại. Hai thể này có tên gọi là Mạt Na ThứcA Lại Da Thức mà kinh Phật giáo gọi là hai thức. Hai thức này sẽ là cầu nối giữa cái xác thân đã chết với cái xác thân sanh trở lại của kiếp kế tiếp. Mạt Na Thức có nhiệm vụ sao chép lại bao quát về cá tánh, bản năng, năng khiếu, cảm xúc, sự hiểu biết và ký ức, hành vi cử chỉ lẫn tư tưởng của con người mà nó liên hệ lúc còn sống. Tất cả những ghi nhận, sao chép này từ Mạt Na Thức sẽ truyền hết cho A Lại Da thức lưu trữ. Như vậy có thể hiểu A Lại Da Thức như là một cái thư viện lưu trữ các tài liệu sách vở của một người lúc còn sống.

   Tài liệu ấy bao gồm các đặc tính, bản năng, thói hư tật xấu và cả tánh tốt của người đó. Tuy nhiên, tùy theo sự dồn nén tập trung tư tưởng, tình cảm nào đó quá nhiều như uất hận, căm thù, đau khổ, sợ hãi, nuối tiếc… thì những tư tưởng tình cảm ấy sẽ là đầu mối cho đời sống kế tiếp mang nặng tất cả những gì đã bị kích động dồn nén ấy. Do đó, mà các vị chân tu thấy rõ điều đó đã căn dặn mọi người rằng: lúc sắp qua đời phải cố giữ tâm yên bình không nên nuối tiếc, đau buồn hay căm giận. Đặc biệt sự căm thù, lòng tức giận là mối nguy ghê sợ nhất nếu phát sinh lúc lâm chung thì lúc tái sanh sẽ rơi vào vòng đau khổ cùng cực. Ðó cũng là lý do tại sao lúc người vừa mới chết, mọi người có mặt nên đọc kinh cầu nguyện, nhắc nhở tâm linh người chết nên sáng suốt, vui vẻ hầu tránh sự mê mờ u tối, lầm lạc khiến dễ sa vào chốn địa ngục.

  

   Người chết có còn biết gì không?

   Đây là câu hỏi mà nhiều người đã thường đặt ra khi đứng trước xác thân một người vừa mới qua đời. Nhiều người thắc mắc cho rằng một khi đã chết thì làm sao người chết nghe thấy, nhận biết những gì xung quanh nữa? như vậy tụng kinh, đọc kinh, nhắc nhở những điều tốt lành bên cạnh họ có ích gì nữa đâu? Phật Thích Ca bậc đã đắc đạo, giác ngộ, nên thấy biết hết những nguyên lý thâm sâu vi diệu trong vũ trụ. Theo Phật thì: khi một người chết thì cái xác thân của người đó trở nên bất động và không còn các tiếp nhận qua các giác quan liên hệ về thấy, nghe, ngửi, sờ, nhận thức nữa vì các giác quan ấy cũng không còn. Tuy nhiên nhờ hai thức còn lại là Mạt Na Thức và A Lại Da Thức mà người chết vẫn còn hiểu biết mặc dù tim đã ngừng đập, không còn thở, không còn cử động nữa mà thôi.

  

   Sự nhận thức của người chết kéo dài được bao lâu?

   Các kinh sách Phật giáo đều cho biết là thời gian ấy là 49 ngày. Một thời gian vô cùng quan trọng đối với người chết. Vì người ấy tuy đã chết rồi nhưng nhờ hai thức quan trọng là Mạt Na Thức và A Lại Da Thức còn tồn tại nên người chết vẫn còn hiểu biết rất rõ những sự việc chung quanh. Khi sắp chết, tim đập yếu dần, nhiệt lượng cơ thể giảm. Trong khi các giác quan bình thường sắp sửa biến mất thì hai thức Mạt Na và A Lại Da lại đảm trách công việc vào lúc này. Ta có thể nhận biết điều này khi thấy phần nhiều những người chết rất tỉnh táo vào giờ phút cuối cùng sắp từ giả cõi đời. Có người chuẩn bị tắm rửa sạch sẽ trước khi chết hay dặn dò vợ con điều này điều kia. Ấy là do thức Mạt Na của người ấy phát động vào lúc người ấy sắp lìa đời. Thức Mạt Na là phần ghi nhận tất cả những gì liên quan tới cảm nghĩ, nhận thức hành động của người ấy nên thức này khi mở ra chẳng khác nào mở cuốn tự điển của cuộc đời nên không quên bất cứ điều gì trước đây dù xa xưa tới mấy. Cái nhớ, biết rõ ràng như thế nên trước khi lìa đời người chết nói năng rất tỉnh táo sáng suốt.

   Trong khoảng thời gian 49 ngày, Thức A Lợi Da trước đây im lìm khi người còn sống thì nay hoạt động. Vì là nơi tích trữ các dữ kiện về tâm thức hành động bản năng, tư tưởng, tình cảm, ý muốn của người ấy lúc còn sống do Mạt Na Thức chuyển tới nên vào giai đoạn này, nếu vì lý do nào đó mà A Lợi Da Thức bị kích động mạnh bởi những tác động ảnh hưởng bên ngoài như sự kêu gào thảm thương, đau đớn của thân nhân người chết hay bản thân người sắp chết căm hờn, tức tối, oán thù thì những tác động ấy sẽ khiến người chết không nguôi và ảnh hưởng tới cuộc đời kế tiếp khi tái sanh khó mà vào được hoàn cảnh thanh lành. Như vậy, khi một người chết, ta nên nghĩ là người ấy chết về phần xác thân mà thôi còn một phần thuộc tâm linh vẫn còn ràng buộc với thân xác, chưa hẳn rời ra ngay nên người chết ấy chưa hẳn là đã chết một cách tuyệt đối. Tình trạng này có khi lâu đến mấy ngày. Trong thời gian đó phần cảm nhận mà người chết có được là nhờ thức gọi là Thần Thức. Chính Thần Thức này là do Mạt Na Thức và A Lại Da Thức kết hợp lại mà thành. Khi chết Mạt Na Thức và A Lại Da Thức liên kết nhau tạo nên một thân mới khác, nhưng thân mới này không có hình hài gọi là “ thân trung ấm . Mặc dầu “ thân trung ấm “ vô hình, vô tướng nhưng lại có sự thông hiểu tinh tường hơn cả người sống. “Thân trung ấm “ chính là cái thân chuẩn bị của tương lai khi xác thân cũ sẽ tan rã, hủy hoại. Khi chuyển biến từ kiếp này qua kiếp khác, Thức A Lại Da đóng vai trò quan trọng vì nó chứa đựng một năng lực vô song.

  

   Sức mạnh của nghiệp lực.

   Nhà nghiên cứu Nguyễn Gia Cát khi tìm hiểu về “thần thức” và “năng lực bảo vệ” đã có những ghi nhận như sau: khi con người trút hơi thở cuối cùng thì cơ thể vẫn còn có một nơi tập trung hơi nóng ấm, đó là “thần thức” . Thần thức là tất cả những hành động của quá khứ tập trung lại tạo nên một sức mạnh vô hình, mầu nhiệm chuyển dẫn người chết lại đầu thai vào xác thân khác để chịu quả báo.

   Sức mạnh đó là sức mạnh của nghiệp lực. Cái mà nhiều người gọi là hồn thật ra là thần thức chớ không gì khác. Thần thức lưu giữ tất cả mọi cá tính, bản năng, hành động, hoàn cảnh… của người đã chết đầy đủ, không thiếu sót ( Chính vì lẽ đó mà không ai có thể che dấu những gì mình đã làm, vì thần thức đã giữ bản sao của đời người đó từng chi tiết rồi ). Vì thế cho nên dù người đó đã qua đời, thân xác đã tan rửa nhưng vẫn còn phần quan trọng là thần thức, là bản sao chép về đời người đó vẫn còn và tạo ra một năng lực gọi là nghiệp lực. Nghiệp lực ấy sẽ chuyển dần người chết đầu thai vào một thân xác mới khác để chịu quả báo.

  

   Thần thức thoát khỏi thân xác từ  vị trí nào?

   Trong dân gian ta thường nghe nói: người chết thì hồn ra khỏi xác. Chữ hồn ấy chính là thần thức. Khi một người chết đi thì trong một thời gian nào đó mặc dầu người đó đã chết nhưng vẫn còn hiểu biết và sự hiểu biết ấy còn linh diệu hơn khi người đó còn sống. Ấy là do sự hiện hữu và hoạt động của thần thức. Nhưng thần thức cũng sẽ rời khỏi xác thân sau một thời gian. Thần thức( hồn ) sẽ thoát ra khỏi thân xác người chết ở những vị trí khác nhau tùy vào nghiệp lực. Nếu nghiệp lực nặng nề thì thần thức sẽ thoát ra từ phần dưới của cơ thể người chết như từ bàn chân từ bụng hay đầu gối. Nếu nghiệp lực thanh cao tốt lành thì thần thức sẽ thoát ra từ trán, mặt hay ngực.

   Nhiều tài liệu kinh điển cổ xưa cho hay rằng có thể quan sát sắc thái, tình trạng, cảm giác thể hiện trên gương mặt của người sắp chết mà suy đoán vị trí thoát ra của thần thức như sau: Khi thấy gương mặt người chết nhăn nhó, mặt xám đen, quằn quại thì biết ngay là thần thức thoát ra từ bàn chân. Nếu người sắp chết đòi ăn, đòi uống, tiếc nuối, than vãn, khổ sở, đau đớn thì thần thức chuyển từ bụng xuống đầu gối và thoát đi.

   Nếu người chết bình tỉnh, sáng suốt, dặn dò người thân mọi điều và giả từ ra đi hay từ từ nhắm mắt trong an bình, tự tại thì thần thức sẽ thoát ra từ ngực hay trán hoặc mặt.

 

   Nghiệp có nhiều loại:

   Nếu phân chia theo chi tiết thì có rất nhiều loại nghiệp khác nhau.

   Tuy nhiên để hiểu khái quát, chúng ta chỉ nên nhớ mấy loại nghiệp chính sau đây:

   1) Nghiệp hiện tại: tạo ác và bị quả báo ngay trong đời. Ví dụ anh A giết người và mấy năm sau anh ta bị tai nạn qua đời.

   2) Nghiệp đời sau: Do tạo nghiệp đời này và đời sau ( kiếp sau  mới bị quả báo. Có khi đến mấy kiếp sau mới bị quả báo ).

   3) Nghiệp bất định: Quả báo đến không nhất định về thời gian có thể mau hay chậm.

   4) Nghiệp tích lũy: Nhiều nghiệp quả từ nhiều đời tích tụ lại.

   5) Tập quán nghiệp: Nghiệp tạo ra theo tập quán. Ví dụ người làm nghề giết mổ heo gà vịt hành nghề lâu thành tập quán không bỏ.

   6) Nghiệp cận tử: Nghiệp tạo ra vào lúc gần lâm chung. Ví dụ một người lúc gần chết dùng vũ khí giết người vì căm tức hay để trả thù.

  

   Nguyên nhân hành động phát sinh mức độ nghiệp quả.

   Khi một người làm việc ác cùng với sự hăng say, thích thú trong lúc hành động thì quả báo đến với họ gia tăng. Nhưng nếu một người làm điều ác theo lệnh cấp trên, bị bó buộc, bị sai khiến, thúc hối phải làm nhưng trong lòng không muốn, cảm thấy đau khổ xót xa vì biết là mình làm điều ác thì nghiệp quả vẫn tạo ra nhưng không lớn lao như người vừa mô tả trước. Vậy các nguyên nhân giữ vai trò quan trọng trong luật quả báo. Anh A làm điều ác, quả báo phản hồi về hành động ác ấy tùy vào nguyên nhân nào đã khiến anh ta hành động. Nguyên nhân ấy có thể do lòng gian ác hung bạo hận thù hay có thể là do bị bắt buộc nếu không làm thì anh ta phải chịu chết. Như thế, nguyên nhân gây hành động tàn ác khác nhau nên hậu quả do quả báo đem lại khác nhau. Khi bàn về sự kiện này có người đã dựa vào lý luận để bào chữa cho hành động sai quấy của mình như người ăn trộm nghĩ rằng: Vì đói, vì muốn cho vợ con hạnh phúc nên anh ta phải đi ăn trộm nên theo anh ta thì nguyên nhân ấy chắc sẽ không nhận quả báo quá nặng nề!

   Nếu lý luận theo cách đó thì rõ ràng anh ta chưa hiểu thế nào là thiện tâm là đạo đức là quả báo.

   Nếu cứ nghĩ sai lạc như thế thì kẻ giết người cũng sẽ bảo rằng: nếu tôi không giết người đó thì người đó sẽ tố cáo tôi – vì tôi sợ nên tôi phải giết thôi. Lý luận ấy cũng hồ đồ như có một kẻ sát nhân đã bảo: Tôi phải giết người ấy để lấy tiền bạc vì gia đình tôi đang túng thiếu !

   Làm việc thiện không phải lớn lao mới tạo phước đức. Đôi khi việc nhỏ mà hành động với tâm lành thì phước đức lại rất lớn lao. Nhiều người nói ta toàn chuyện phước thiện lớn lao ý nghĩ to lớn nhưng thực tế thì chẳng có gì cả.

   Đã có biết bao người thường nói: “Cầu cho tôi được trúng số tôi sẽ xây mấy cảnh chùa nhà thờ! Tôi sẽ… Tôi sẽ… “Chuyện trúng số thì biết bao giờ mới trúng, nên chi cứ nói mà không thấy trong khi có người lở đường xin chút tiền mua cơm ăn lại không cho, nghe đồng bào bị bảo lụt đói lạnh không dám bỏ vài đồng đóng góp. Thực tế trước mắt không thực hiện, chỉ thực hiện ở đầu môi chót lưỡi mà thôi. Thế gian có vô số người như thế.

   Theo các kinh sách và lời giảng của các bậc tu hành thì trong cuộc đời dù ta làm việc thiện nhỏ nhoi tới mấy đi nữa thì đó cũng là gieo mầm phúc thiện.

   Cứ mỗi ngày, mỗi giờ mỗi phút ta suy nghĩ những điều tốt lành làm những việc hướng thiện thì dù nhỏ tới mấy nhưng cứ một ít, một ít dồn chứa tích tụ lại và cuối cùng đời ta cũng sẽ tạo được phước lành nếu không có ngay trong đời này thì cũng sẽ ở đời sau.

   Mình muốn được mọi người thương mến mình thì cách hay nhất là mình phải thương mến mọi người hay ít nhất là đừng ghét họ. Vậy cái nguyên nhân tạo nên mối thiện cảm tốt lành chính là “ tình thương “ .

   Do đó kinh Phật có câu: “đem yêu thương xóa bỏ hận thù”.

   Theo thuyết luân hồi thì mọi thứ trên thế gian khi có sự gặp gỡ hội tụ liên kết nhau là do ở nhân duyên, nghiệp lực làm phát sinh.

   Tại sao cô con gái nhà đó lại làm con dâu nhà tôi?

   Tạo sao ông bà ấy lại là cha mẹ chồng của tôi?

   Tại sao chúng tôi lại sống cạnh nhau?

   Phải chăng là do có nghiệp báo luân hồi với nhau?

   Phải chăng chúng ta có nợ với nhau?

   Như vậy, nếu có thì chúng tôi phải sống với nhau như thế nào cho tốt?

   Chúa đã dạy rằng: “đừng mắc nợ ai chi hết, chỉ mắc nợ yêu yhương mà thôi!” Hay “Ngươi phải yêu kẽ lân cận mình như mình yêu mình vậy.” Như vậy, thì rõ ràng khi người mẹ chồng đối xử tốt với con dâu thì khó mà có người con dâu nào ăn ở không biết điều với cha mẹ chồng.

   Cũng vậy, một khi người con dâu xem cha mẹ chồng như cha mẹ mình thì khó có người cha mẹ chồng nào lại đem lòng ghét bỏ con dâu. Trong Kinh Thánh có đoạn ghi như sau: “Các ngươi muốn người ta làm cho mình như thế nào thì hãy làm cho người như thế ấy”

   Trên đây chỉ là một số tội lỗi thường thấy trong đời sống của con người.

   Thật ra còn vô số sự kiện mà từ đó phát sinh nghiệp quả chồng chất ngày càng lớn lao như tội lừa dối (l ừa dối chồng vợ, con cái, bè bạn người khác hăm dọa như nặc danh hăm dọa bằng lời nói….), xúi giục ( xúi người khác làm điều xấu, hại ngườ i), chế diểu  cười cợt khi thấy kẻ khác gặp điều không may ), ganh ghét ( thấy kẻ khác hơn mình thì sanh lòng tức giận ), ích kỷ ( chỉ muốn tốt lợi cho mình mà không muốn tốt hay lợi cho ngườ i), sang đoạt ( lấy nhà cửa của cải người ), gạt gẩm, giả mạo, bày mưu tính kế ( chuyên làm giấy tờ giả mạo, sản xuất giả mạo – hàng giả, chế thuốc giả mạo, pha chế thức ăn giả mạo bằng những chất có hại cho cơ thể người tiêu dùng, bày mưu tính kế lừa gạt người hay làm hại người..) ..vân vân .

   Những sự kiện vừa kể đã thường xảy ra từ muôn nơi và muôn thưở. Tuy nhiên những người phạm vào các vấn đề trên hiếm người cảm nhận được rằng mình làm điều sai quấy để rồi ân hận hối lỗi mà bỏ qua. Trái lại rất nhiều người biết việc mình làm sai nhưng vẫn cho là không ác hại gì và cứ thế mà tiếp tục. Hậu quả là ác nghiệp tạo thành ngày càng chồng chất khiến tội lỗi ngày càng nặng nề thêm và dĩ nhiên họ phải nhận lãnh quả báo không may sớm hoặc muộn mà thôi. Muốn nghiệp báo đừng tạo thêm và giảm thiểu thì nhớ lời dạy của Phật: Ý nghĩ và hành động tốt lành (thiện) thì nên nghĩ tới và tiến hành. Nếu việc thiện đã tiến hành rồi thì nên phát triển việc thiện ấy ngày càng lớn thêm. Ý nghĩ và hành động xấu xa, tàn ác hung dữ thì nên diệt ngay trong ý nghĩ, không cho phát sinh. Nếu lỡ đã tiến hành thì nên ngừng lại và dứt bỏ không làm nữa.

 

   Nguyên nhân nào khiến ta phải đau khổ!!!

   Con người sinh ra và sống trên cõi đời không ai là không khổ. Từ vua quan cho tới kẻ cùng dân, ai cũng đều có cái “khổ” riêng cả. Cư sĩ T.Q. đã nêu một vài cái khổ trong bài viết “thân thể con người”: cái chết là một cái khổ trong 8 thứ khổ của con người:

   * Khổ vì bị sanh ra

   * Khổ vì bị già

   * Khổ vì bị bệnh

   * Khổ vì bị chết

   * Khổ vì bị gần với những thứ mình không ưa

   * Khổ vì bị xa với những thứ mình ưa thích,

   * Khổ vì muốn mà không được

   * Khổ vì có quá nhiều sức khỏe và Ngũ ấm.

   Ngũ ấm gồm năm thứ:

   1) Sắc: chỉ cho các hình danh sắc tưởng.

  2) Thọ: chỉ những cảm giác

   3) Tưởng: chỉ những sự tưởng tưởng, suy nghĩ

   4) Hành: chỉ cho các hành động tạo tác

   5) Thức: chỉ cho các cái biết của “ý”

   ( Cư sĩ T.Q – thân thể con người – Báo Viên Giác – số 113, tháng 10-1999 Ðức Quốc )

   Còn có cái khổ khác nữa do mỗi con người tự tạo ta đó chính là các tâm của mỗi người. Cái tâm đó thường tham lam, thường mơ mộng, tưởng tượng những thứ không có thật mà cứ tưởng là có thật. Cái tâm cũng là nguyên nhân tạo ta những hậu quả. Kinh Phật giáo thường cho rằng: “mọi sự tại tâm” đã nói lên điều đó.

   Ngoài cái tâm ta còn có cái thân. Cái thân xác mà ta cho là sự “của ta” hay “chính là ta”, vì cái thân ấy mà ta phải khổ. Có thân thì có ham muốn vì đó chỉ là các thân vật chất thật sư. Có ham muốn là có chiếm hữu, sinh ra ích kỷ chỉ muốn lợi cho thân mình mà không muốn cho ai được lợi cả. Như thế, càng ham sống là càng gây ra nhiều nghiệp quả để rồi nhận lấy quả báo luân hồi đau khổ.

   Nếu biết các xác thân chỉ như các áo ta mặc thì sự khổ đau, bệnh hoạn chỉ như cái áo bị rách cũ mà thôi. Cái xác thân ta đẹp đẽ hay xấu xí thì cũng như cái áo ấy màu sắc, đẹp hoặc không được sáng sủa, hấp dẫn. Khi chết chính là lúc cái áo ấy bị thay bỏ không mặc nữa và rồi ta sẽ mặc vào cái áo khác. Khi sống, ta cử động nhúc nhích, đi lại thì cái thân xác ta cử động, nói năng, nhận biết, cảm xúc nhưng thật ra các hổ trợ đó không phải phát xuất từ cái xác thân mà từ nhiều thứ như ý nghĩ, cảm giác, thấy nghe, nếm ngửi…vân…vân. bộc lộ qua tai, mắt, mũi, miệng, lưỡi…Khi chết những thứ đó đều mất đi. Vậy mà chúng ta, ai cũng nghĩ về cái thân xác mình mang và cho đó là chính mình. Thật sự thì cái thân xác ấy chỉ là những vật chất cơ bản tạo nên và sau một thời gian cũng quay về với cát bụi mà thôi. Để chứng minh cái thân xác ấy có phải của ta không thì ta hãy nhớ lại là cái thân ấy có hoàn toàn theo ý ta không? Ta thì luôn luôn muốn khỏe mạnh, nhưng xác thân muốn đau yếu, bệnh hoạn muốn chết khi nào là tùy ý nó. Ta không muốn uống nước nhưng cái xác thân lại khát và ta phải chìu ý nó. Ta cố ráng sức thức nhưng cái xác thân cứ muốn ngủ không theo ý ta. Có khi ta quyết nhịn ăn, nhưng cái xác lại đòi ăn. Rõ ràng là cái thân làm ta khổ

   Ngay cả cái tâm mà chúng ta nghĩ ngợi, phân tích, suy tính thiệt hơn ta cũng tưởng là “của mình” luôn. Nhưng cũng chính cái tâm làm mình khổ. Tại sao cái tâm thật sự không phải là ta. Nếu tâm là ta thì chỉ có mỗi một thứ tâm thôi, cớ sao lại hai thứ như tâm thiện và tâm ác? Vậy đã là cái ta thì tại sao lại là hai được? Còn cái tâm làm cho ta đau khổ thì thật quá nhiều. Ví dụ như khi ta muốn điều gì tức là tâm ta muốn nhưng đâu có phải muốn là đạt được. Ví dụ lúc ta có thiện tâm, ta muốn người bị bệnh được lành hay người nghèo có được tiền bạc, nhưng điều mình muốn hay tâm mình muốn như thế đâu có phải hoàn toàn được như ý. Thế là ta đau khổ vì không đạt ý nguyện. Đôi khi vì lòng ghen tức căm ghét một người nào đó nên ta muốn kẻ ấy phải bị khổ đau nhưng kẻ ấy vẫn bình yên an lành. Như thế là tâm muốn mà không được cũng khiến ta đau khổ.

   Vậy chính cái thân và cái tâm làm mình ham muốn, tự cao tự đại, tự ái phân biệt, ích kỷ, tham lam, ganh ghét, giận hờn. tức tối…Nghĩa là vì cái thân và các tâm mà càng ngày mình càng phát triển.

   Tham sân si, lòng thù hận nhiều lên nhất là khi mình cứ nghĩ là “cái thân “ chính là của mình, “cái tâm” chính là mình. Chính vì sự nhầm lẫn mê mờ u tối trong nhận thức về cái “xác thân” và “cái tâm “ như thế nên hằng phút, hằng ngày, hằng giờ… mỗi người đều tự tạo cho mình biết bao hành động, ý nghĩ sai lầm tội lỗi khiến tạo ra biết bao nghiệp báo chồng chất không bao giờ vơi mà mình không biết??!…!…


   Tâm Duyên chân thành cảm ơn tác giả bài viết.

   Người gởi: Dì Phúc

 





BÍ ẨN VỀ TIỀN KIẾP - HẬU KIẾP.pdf BÍ ẨN VỀ TIỀN KIẾP - HẬU KIẾP.pdf
Size : 258.633 Kb
Type : pdf
CẬN TỬ NGHIỆP.pdf CẬN TỬ NGHIỆP.pdf
Size : 345.395 Kb
Type : pdf
VÀI LỜI VỚI NGƯỜI CHẾT.pdf VÀI LỜI VỚI NGƯỜI CHẾT.pdf
Size : 94.22 Kb
Type : pdf
CÕI CHẾT KHÔNG BUỒN.pdf CÕI CHẾT KHÔNG BUỒN.pdf
Size : 223.055 Kb
Type : pdf
HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG.pdf HÀNH TRÌNH VỀ PHƯƠNG ĐÔNG.pdf
Size : 5785.281 Kb
Type : pdf
ĐỜI SỐNG SAU ĐỜI NÀY.pdf ĐỜI SỐNG SAU ĐỜI NÀY.pdf
Size : 346.936 Kb
Type : pdf
BÊN KIA CỬA TỬ.pdf BÊN KIA CỬA TỬ.pdf
Size : 265.64 Kb
Type : pdf
ÂN OÁN CỦA NGƯƠI ĂN MÀY.pdf ÂN OÁN CỦA NGƯƠI ĂN MÀY.pdf
Size : 90.226 Kb
Type : pdf
CHIẾC BÓNG.pdf CHIẾC BÓNG.pdf
Size : 151.991 Kb
Type : pdf
ANH EM TIM SƯ TỬ.pdf ANH EM TIM SƯ TỬ.pdf
Size : 96.4 Kb
Type : pdf
KHÔNG BAO GIỜ 12PM.pdf KHÔNG BAO GIỜ 12PM.pdf
Size : 127.066 Kb
Type : pdf
TRỞ LẠI CÕI TRẦN.pdf TRỞ LẠI CÕI TRẦN.pdf
Size : 218.091 Kb
Type : pdf
LINH HỒN.pdf LINH HỒN.pdf
Size : 89.767 Kb
Type : pdf
SHANTI DEVI - LUÂN HỒI ĐẦU THAI.pdf SHANTI DEVI - LUÂN HỒI ĐẦU THAI.pdf
Size : 440.539 Kb
Type : pdf
LINH CẢM.pdf LINH CẢM.pdf
Size : 106.202 Kb
Type : pdf
Make a Free Website with Yola.