CHUYỆN LẠ ĐÓ ĐÂY

LỜI TIÊN TRI CỦA VANGA.pdf LỜI TIÊN TRI CỦA VANGA.pdf
Size : 181.311 Kb
Type : pdf
NHỮNG CÁI CHẾT TRÙNG HƠP.pdf NHỮNG CÁI CHẾT TRÙNG HƠP.pdf
Size : 298.321 Kb
Type : pdf
CHUYỆN LẠ.pdf CHUYỆN LẠ.pdf
Size : 215.577 Kb
Type : pdf
LỖ HỎNG THỜI GIAN.pdf LỖ HỎNG THỜI GIAN.pdf
Size : 101.115 Kb
Type : pdf
THỨ SÁU NGÀY 13.pdf THỨ SÁU NGÀY 13.pdf
Size : 41.41 Kb
Type : pdf
6 CÁCH LÀM GIÀU ĐÁNG SỢ NHẤT.pdf 6 CÁCH LÀM GIÀU ĐÁNG SỢ NHẤT.pdf
Size : 233.764 Kb
Type : pdf

  


  Lời nguyền của người tử tội

  Ông ta khẳng định tuyên bố rằng ông là người vô tội, nhưng dựa vào những chứng cớ của hai người mà ông ta nói rằng họ sẽ được lợi ích nếu ông chết đi, cho nên những lời ông nói đều vô hiệu. Cuối cùng ông ta bị kết án và xử tử treo cổ.

   Năm 1821, tại thị xã Newtown Montgomeryshire thuộc nước Wales, có một người đàn ông tên là John Newton mang tội giết người và được đưa ra trước tòa để thẩm phán. Ðứng trước quan tòa thét lớn:

   - TÔI VÔ TỘI! TÔI LÀ NGƯỜI VÔ TỘI! ÐỂ CHỨNG MINH ÐIỀU ÐÓ, TÔI SẼ KHÔNG CHO NGỌN CỎ XANH TƯƠI NÀO MỌC TRÊN MỒ CỦA TÔI. MÃI MÃI KHÔNG CÓ NGỌN CỎ TƯƠI XANH NÀO MỌC TRÊN NGÔI MỒ CỦA TÔIIIII!

   Vài ngày sau, John Newton đã bị treo cổ công khai trước quần chúng. Thật là kỳ lạ khi lễ xử tội bắt đầu thì bỗng đâu một cơn bão kéo tới sấm sét vang rền làm những người có mặt tại hiện trường đều ngạc nhiên và lo sợ...

   Sau khi ông Newton chết, xác của ông được chôn trên mảnh đất sau một thánh đường thuộc vùng ngoại ô thành phố.

   Khu nghĩa địa này là một mảnh đất xanh tươi với những ngọn cỏ được bón phân cắt tỉa mỗi tuần với những mộ bia nằm từng hàng thẳng tắp trong thật đẹp mắt, nhưng từ khi xác của John Newton được chôn ở đây thì miếng đất này không được hoàn mỹ giống như xưa. Ấy là vì giữa một tấm thảm cỏ xanh mướt lại có một khoảng đất hình chữ nhật trơ trọi mọc một loại cỏ dại bò chung quanh theo khuôn khổ của chiếc quan tài nằm bên dưới.

   Mỗi ngày những dân cư đi qua đều có thể trông thấy ngôi mộ của Newton vì thế mặc cảm tội lỗi và nỗi đau buồn về một kẻ bị giết oan càng ngày càng tăng dần trong khu thị xã nhỏ này. Ðể xóa đi những cảm giác ấy, chính quyền địa phương đã nghĩ ra một cách nếu cỏ không tự mọc trên ngôi mộ này được thì họ có thể trồng cỏ lên trên đó. Họ đem những thứ đất tốt đổ lên ngôi mộ trải ra cho đều, sau đó họ rải những hạt cỏ lên rồi tưới nước rất cẩn thận. Nhưng nhiều ngày trôi qua không một hạt cỏ nào nẩy mầm.

   Và vài tháng sau người ta lại tìm đủ mọi cách để trồng cỏ, cứ như vậy người ta lại trồng cỏ bón phân tưới nước nhưng trải qua nhiều năm một cọng cỏ xanh tươi cũng không thể mọc được trên nấm mồ của người đàn ông Welsh này.

   Vào năm 1852 một vị giáo sĩ tên là Robert Mostyn Price đã đứng lên biện hộ cho người đàn ông bị treo cổ.

   Ông ta viết:

   “Ðã ba năm trôi qua mà chúng ta không thể trồng cỏ  trên nấm mồ này cho dù chúng ta đã dùng đủ mọi cách, đủ mọi phương pháp nhưng một cọng cỏ cũng không thể mọc lên. Vì vậy tôi cùng nhiều người khác tin rằng đây là sự chứng minh “vô tội” của người đàn ông đáng thương.”

   Nhưng khó có thể làm cho người ta chấp nhận được sự thật rằng quan tòa đã xử án sai lầm để một người đàn ông vô tội phải chết. Cho nên một lần nữa họ lại gắng sức làm cho cỏ mọc trên ngôi mồ của Newton bằng cách đổ lên đó một thứ đất phân thật tốt, rồi cấy những cây cỏ xanh tươi dễ trồng nhất rồi tưới nước và chăm sóc rất kỹ lưỡng.

   Mọi người hồi hộp chờ đợi. Cuối cùng thì người ta cũng thấy được những cây cỏ mới cấy bắt đầu trổ lá non; lúc đó ai cũng hớn hở vì cỏ đã mọc được trên nấm mồ Newton rồi như vậy họ sẽ không còn cảm thấy mặc cảm tội lỗi bao trùm trong bầu không khí chung quanh đây nữa. Nhưng tiếc thay chỉ qua một đêm, những loại cỏ dại đã bò lên dầy đặc nuốt chửng mất những cây cỏ xanh tươi vừa mới bắt đầu trổ lá non. Không biết tại sao loại cỏ này lại mọc nhanh như thế? Mọi người không ai có thể hiểu nổi có lẽ chỉ có linh hồn người quá cố nằm bên dưới quan tài mới biết được.

   Cũng từ đó không ai màng đến việc trồng cỏ lên ngôi mộ của ông Newton nữa vì họ biết rằng cho dù có trồng thì cũng vô dụng... vì vậy mảnh đất nhỏ xấu xí này tiếp tục đứng vững trong vùng đất xanh mướt màu cỏ non ...

   Cho đến thế kỷ sau, năm 1941, một người đến viếng khu nghĩa địa này vẫn có thể chỉ đúng ngay ngôi mồ của Newton, một mảnh đất có nhiều cỏ dại bò ngổn ngang theo khuôn của chiếc quan tài vẫn còn nằm giữa mảnh đất xanh tươi đẹp đẽ, đó là chứng cớ thầm lặng về sự phán xét sai lầm của tòa án với lời nguyền của người đàn ông nước Wales.

   

  

  


   Lời nguyền nơi kim tự tháp Ai Cập

   Một tấm thảm kịch lạ lùng kinh dị cùng diễn ra một lần tại hai nơi rất xa khi con chó của nhà khảo cổ lừng danh Lord Carnarvon bỗng nhiên hốt hoảng tru lên những tiếng hãi hùng rồi lăn ra chết đúng vào lúc người chủ thân yêu của nó là Lord Carnarvon ở cách xa đến hàng ngàn dặm cũng tự nhiên kêu lên một tiếng rồi ngã vật ra trút hơi thở cuối cùng trong một căn phòng của khách sạn ở Cairo, thủ đô Ai Cập.

   Câu chuyện khởi đầu từ ngày 17 tháng 2 năm 1929, khi nhà khảo cổ Lord Carnarvon và đoàn thám hiểm của ông đục phá cửa đá bí mật của Kim Tự Tháp nổi tiếng ở Ai Cập để đột nhập vào ngôi mộ của vua Tutankhamen. Chính ngay ở ngôi mộ cổ này, Howard Carter đã khám phá ra được thêm một kho tàng vô giá vượt ngoài sức tưởng tượng hoặc ước mơ của họ, những đồ vật bằng vàng khối, những bảo thạch, những đồ dát ngọc tập trung nơi chiếc quan tài rực rỡ chứa đựng thi thể vua, nơi đây hai nhà khảo cổ còn tìm thấy được những thứ mà từ lâu họ từng thiết tha mong đợi.

   Ðiều làm cho kẻ đột nhập ngôi cổ mộ trong thấy trước tiên có lẽ là hàng chữ khắc trong vách đá, hàng chữ mà nội dung là cả một lời nguyền đầy vẻ cảnh cáo, hăm dọa : "Kẻ nào làm quấy động giấc ngủ của Pharaon (vua Ai Cập) đều phải chết!"

   Không ai có thể ngờ được, nhất là đối với nhà khoa học, dòng chữ khắc trên đá ấy lại là cả một lời nguyền với sức mạnh siêu linh, huyền bí tác động lên những ai dám mạo hiểm đột nhập vào ngôi cổ mộ của vua Ai Cập.

   Về sau, những người dấn thân vào việc khám phá Kim Tự Tháp đã đến bên áo quan của vua Tutankhamen đều lần lượt trả giá rất đắt.

   Trước tiên là nhà khảo cổ Lord Carnarvon, một hôm đang ngủ trong căn phòng của khách sạn Continental thì bỗng nhiên thức dậy nói lẩm bẩm như người ngủ mê:

   - Tôi cảm thấy thích chốn địa ngục.

    Vừa lúc đó con trai của ông chạy vào lo lắng hỏi han, nhưng nhà khảo cổ vẫn lẫm bẩm câu nói quái gỡ ấy và ngớ ngẩn như chẳng còn biết gì ở chung quanh. Ðêm đó, ông trút hơi thở cuối cùng. Cùng thời điểm ấy, con chó nhà ông tru lên từng hơi... Sau đó không lâu tại khách sạn này, nơi trú của một nhà khảo cổ quan sát về Kim Tự Tháp Ai Cập lại xảy ra một thảm kịch nữa, nhà khảo cổ Mỹ là Arthur Mace tự nhiên kêu van là mệt mỏi rồi bất thình lình vùng dậy tất tả đi về hướng Kim Tự Tháp và đòi vào thăm cho được chiếc quan tài của vua Ai Cập Tutankhamen lần nữa mặc dù đêm đã khuya. Thế rồi, Arthur Mace nấc lên và chết. Các bác sĩ không tìm được nguyên nhân của cái chết của nhà khảo cổ này.

   Mọi người chưa dứt sự bàng hoàng về cái chết lạ kỳ trên thì George Gould, bạn của nhà khảo cổ Carnarvon (người đã vào tận hầm mộ của vua Ai Cập trong Kim Tự Tháp và đã chứng kiến tận mắt xác thân và gương mặt của nhà vua) bỗng nhiên lên cơn sốt dữ dội và chết sau một đêm không chợp mắt. Tiếp đến, Reid, người đã chiếu tia X qua xác ướp của vua Tutankhamen để mong khám phá những điều mới lạ đã chết một cách đột ngột.

   Rồi điều kinh dị khác xảy ra; người thư ký của nhà khảo cổ Carnarvon (đã theo ông ta bất cứ nơi đâu trong các cuộc khảo sát Kim Tự Tháp) được phát giác là đã chết khi đang nằm trên giường ngủ, theo bác sĩ khám nghiệm thì người thư ký này chết vì chứng trụy tim.

   Chưa hết, nhà tư bản công nghiệp Anh là Joel Wool, một trong những người đào hầm mộ của vua Tutankhamen cũng tự nhiên chết sau một cơn sốt lạ kỳ.

   Tính kỹ lại thì chỉ trong vòng có 6 năm sau cuộc khai mở canh cửa bí mật nơi Kim Tự Tháp của đoàn khảo cổ để vào tận mộ của vua Ai Cập, đã có 12 người chết một cách bí mật, dị kỳ.

 


  


   JULIA VOROBIOVA

   Tại Lirkrain có một phụ nữ tên là Julia Vorobiova, bà là một phụ nữ bình thường giống như bao nhiêu phụ nữ khác, bà đã có gia đình, con cái đều đã khôn lớn. Chỉ có điều đặc biệt là vào năm 37 tuổi bà bị bất tỉnh nhân sự vì bị chạm vào một đường dây điện cao thế. Người ta đưa bà vào nhà xác vì chắc chắn là bà không thể nào sống. Nhưng lạ lùng thay, chỉ mấy ngày sau bà Vorobiova tỉnh lại và suốt gần nửa năm trời, bà Vorobiova không thể nào ngủ được vì bà cảm thấy trong cơ thể bà có một sự chuyển biến lạ lùng. Não bộ bà như rực hào quang và bà có cảm tưởng như người bà có một bình ắc quy lớn sôi sục điện năng.

   Dần dần cơn cuồng loạn về ánh sáng và điện lực dịu dần, bà Vorobiova đã bắt đầu trở lại bình thường. Bà đã đi lại, ăn uống, ngủ và suy nghĩ, làm việc như bao người khác. Bà khỏe mạnh, bình tĩnh. Nhưng một hôm bà bỗng hốt hoảng vì vừa khám phá ra một điều vô cùng kỳ lạ là khi bà đến tiệm bán bánh mì. Hôm đó bà gặp một thiếu phụ đang đứng đợi xe buýt trước cửa tiệm bánh. Ðiều kinh ngạc là bà đã thấy toàn thể mọi cơ quan, bộ phận trong cơ thể của người thiếu phụ ấy. Có nghĩa rằng, bà Virobiova đã nhìn xuyên con người qua áo quần, da thịt họ. Bà sợ quá, dụi mắt nhiều lần nhưng lần nào bà cũng đều thấy như thế, ngay cả những người qua đường bà cũng đều thấy rõ ruột gan, tim phổi và cả những sợi gân, những mạch máu của họ.

   Trở về nhà, tim bà còn đập mạnh vì hồi hộp. Bà không dám nhìn vào bất cứ vật gì vì bà luôn luôn thấy xuyên sâu vào mặt trong chứ không phải chỉ thấy ở dạng thể bên ngoài.

   Nhưng rồi dần dần bà Vorobiova cũng bình tĩnh trở lại và bà tự nhiên cảm thấy vui thú và tự tin về khả năng kỳ lạ mà bà đã có được. Bà tự nghĩ "có lẽ Ðấng Tối Cao đã ban cho ta khả năng này với mục đích nào đó". Từ đó, bà lại hăng hái tò mò nhìn ngắm và tìm hiểu bất cứ những gì bà thấy. Bà đã nhiều lần làm cho những người hàng xóm ngạc nhiên vì bà Vorobiova đã chỉ cho họ tìm lại được những gì mà họ làm mất.... Có một lần bà đã giúp cho bác sĩ biết một cậu bé con nuốt nhầm một đồng xu vào bụng và bà vừa nhìn cậu bé vừa nói:

   - Ðồng xu hiện đang nằm ở vị trí của đường vòng cuối dạ dày nối tiếp với ruột non.

   Từ đó trở đi có nhiều người kéo đến nhà bà Vorobiova để xin bà giúp đỡ đủ chuyện: nào là tìm kiếm vật bị mất, tìm hài cốt của thân nhân bị thất lạc, định bệnh v.v...

   Các phóng viên trong nước và ngoài nước đã nghe tin lạ về bà nên đã đến gặp bà để tìm hiểu.

   Có lần nhà báo Nicolai Lixovencon đến gặp bà Vorobiova, chưa kịp đặc câu hỏi, bà đã hỏi ngược lại nhà báo:

   - Ông có muốn tôi nói rõ là sáng nay ông đã dùng gì không? - Ồ! Nhà báo nói, rất hân hạnh.

   - Bụng ông toàn là nước Kitxen mà thôi.

   Nhà báo reo lên đầy thán phục.

   - Ðúng! đúng! Thưa bà, sáng nay vội quá tôi chẳng kịp ăn thứ gì. Quả thật tôi rất ngạc nhiên về lời đoán của bà.

   Càng ngày tin đồn về khả năng nhìn suốt mọi vật làm dân chúng khắp nơi ùn ùn kéo đến gặp bà càng ngày càng đông khiến chính quyền phải cắt cử những nhân viên an ninh đến khu vực bà ở để vãn hồi trật tự. Vô tình bà Vorobiova đã trở nên một nữ bác sĩ chẩn bệnh chính xác còn hơn cả máy chụp quang tuyến. Ðôi mắt của bà bây giờ không phải là đôi mắt của những con người bình thường nữa. Bà còn cho biết là mỗi lần đi dự tang lễ của một người nào là bà rất chán nản, ngại ngùng vì bà không những thấy quan tài mà bà còn thấy cả xương thịt của người chết ngay trong áo quan, xuyên qua lớp ván và những vải liệm.

   - Giờ đây cái đẹp nhân thế không còn nghĩa lý gì đối với tôi như trước đây nữa. Mọi vật tôi đều nhìn xuyên suốt chứ không còn thấy ở ngoại diện. Những cô gái đẹp, những hoa hậu đối với tôi dường như vô nghĩa nếu tôi nhìn lâu vào họ. Tất cả mọi vật rõ ràng là đầy vẻ giả tạo. Vì thế tôi nghĩ rằng thật buồn cười khi ta tô điểm son phấn đầy vẻ diêm dúa cũng chỉ là để che cái thực thể bên trong mà thôi.

   Một người bạn của bà ta hỏi bà một câu như sau:

   - Chị thấy ra sao khi trước mặt chị là một người đàn bà đã sửa sắc đẹp trên thân mình hay trên mặt họ.

   - Ồ! Tôi thấy cả những vật thể để độn vú, độn mông, độn mũi, những chất để bơm vào da. Những vật thể này nằm dưới da thịt họ như những viên đá lăn lóc trên đường vậy…

 


  

  

 

   Cậu bé có khả năng thấu thị

   Theo các vị Lạt Ma Tây Tạng cũng như các sổ sách cổ tại các tu viện lâu đời ở Lhassa thì khả năng này rất hiếm thấy trong nhân loại. Không phải ai cũng đều có được dù mỗi người trong cơ thể đã tiềm ẩn khả năng này. Tuy nhiên từ khả năng tiềm ẩn, muốn bộc phát thành hiện thực là một điều vô cùng khó khăn. Duyên cơ để khai thông, đánh thức tiềm năng ấy là cả một điều huyền bí lạ lùng. Phải được một cơ may nào đó có một đạo sư ấn vào huyệt đạo giữa hai chân mày hoặc đôi khi vì một tai nạn, một sự cố bất thường nào đó xảy ra khiến cho khả năng được kích động và trổi dậy. Tại Tây Tạng có một gia đình chuyên về đập đá gồm hai vợ chồng và một người con trai. Một hôm đang hì hục đập đá, bất ngờ một mảnh đá văng ra trúng ngay giữa huyệt đạo (vùng nằm giữa hai con mắt gần hai chân mày) của người con trai khiến cậu ta choáng váng mặt mày. Ngày hôm sau, cả gia đình lại tiếp tục lên địa điểm củ để đập đá. Nhưng lần này, lúc người con trai dự định đưa búa lên định đập vào khối đá thì bỗng nhiên cậu ta dừng tay lại và nói với người cha:

   - Ồ! Con thấy ở dưới lớp đất gần khối đá này có thân xác của một vị đạo sư.

   Cha mẹ người con trai tưởng con nói đùa nhưng người con quả quyết như thế và nhất định ngăn cản người cha đập đá bằng mọi cách. Hai hôm sau, hai cha con cùng với một người đàn ông trong xóm đến địa điểm ấy với cuốc xẻng. Họ đào đất xem thử có gì đặc biệt dưới đó không và quả nhiên họ thấy một thi thể của một vị đạo sư già được đặt trong một lớp ván đã mục nát.

   Nhục thân của vị đạo sư đó được đưa về an táng trong một ngôi đền gần một tu viện lớn cách Lhassa khoảng 200 dặm. Từ đó người con trai kia thường giúp dân chúng tìm kiếm những mạch nước ngầm và những hài cốt thất lạc. Theo các vị Lạt Ma Tây Tạng thì đây là trường hợp đặc biệt hiếm có về khả năng huệ nhãn được khơi dậy. Người con trai kia trong cơ thể đã tiềm ẩn khả năng này và tác động bất ngờ của mảnh đá văng trúng huyệt đạo giữa hai con mắt là tác nhân kích thích để phát huy huệ nhãn giống như luồng điện đã có sẵn nhưng mạch điện còn hở nên đèn không sáng. Chỉ khi nào đóng mạch điện thì điện mới sáng lên mà thôi. Tuy nhiên, cũng theo vị Lạt Ma Tây Tạng thì sự kiện mảnh đá văng vào trán ấy thật sự không phải do tình cờ mà là một cơ duyên, một sự "cố ý" phát sinh từ một siêu hình nào đó tác động vào. Có thể do chính năng lực của vị đạo sư đã quyết định "khai thông huyệt đạo" cho cậu con trai ấy.

   Sự kiện những người có khả năng nhìn thấy những hình ảnh, sự việc mà người thường không thấy được đã và đang là sự kiện có thật trên thế giới chứ không phải là chuyện mơ hồ mê tín,   huyền hoặc.


 

  


   SUDEIH BABU 

   Tại Ấn Ðộ vào năm 1910 có một nhân vật có khả năng phân thân và tàng hình. Nhân vật đó chính là Sudeih Babu có tài liệu gọi là Sai Baba. Sudeih Babu có rất nhiều khả năng lạ lùng như có thể lấy những đồ vật ở xa, nhìn xuyên qua các vật cản. Sudeih Babu mất năm 1918. Tám năm sau vào ngày 23 tháng 11 năm 1926, tại một tỉnh ở Ấn Độ có một đứa trẻ ra đời tên là Satyanarayana Raju. Ðứa bé này sau đó đã tự nhận mình là hiện thân của Sudeih Babu. Người trong làng và ngay cả cha mẹ của cậu bé cũng không hiểu cậu ta nói gì vì quả thật ít người còn nhớ lại vị thánh sống Sudeih Babu. Về sau có một ông lão đi qua làng nghe chuyện lạ mới tìm đến gia đình của cậu bé, sau khi hỏi ngày sinh tháng đẻ của cậu bé, ông lão gật gù nói:

   - Trước đây tại Ấn có một người tên là Sudeih Babu, người này có nhiều phép lạ và được người Ấn trong vùng gọi là thánh sống. Trước khi qua đờI, vị thánh sống này đã trối trăn lại rằng tám năm sau đó ông ta sẽ lại tái sanh. Cháu bé này chính là hiện thân của Sudeih Babu.

 

   SATYANARAYANA RAJU ( là hiện thân của sudeih Babu )

   Riêng Satyanarayana Raju thì càng ngày càng phát triển được nhiều tài năng kỳ diệu do một năng lực siêu phàm nào đó hổ trợ như có thể dùng tay không lấy ra từ không khí những đồ vật một cách hết sức tự nhiên. Trước hàng ngàn người, Satyanarayana Raju đã theo lời yêu cầu của bất cứ ai lấy trong không khí ra cái mà họ yêu cầu. Những thứ mà nhiều người yêu cầu ông lấy ra từ không khí rất đa dạng, có khi là những vật mà vào giai đoạn thời gian đó khó tìm thấy, nhưng ông vẫn làm được. Theo các tài liệu trình bày về các năng lực phi thường đầy biến hóa của Satyanarayana Raju thì từ ngày bộc lộ tài năng này ra cho mọi người biết, ông ta đã lấy được từ không khí ra hàng vạn đồ vật khác nhau: từ chén dĩa, bông hoa, vải vóc, thức ăn, sách vở và cả những thứ ít người nghĩ đến như cái gối, tổ chim, rễ câỵ...

   Các nhà khoa học đã tìm đến quan sát và tìm hiểu. Khi hỏi rằng: do đâu mà Satyanarayana có thể lấy được các đồ vật trong không khí thì ông ta trả lời như sau:

   - Sự thật chẳng có gì là khó khăn khi ta biết rằng trong vũ trụ không gian tích trữ các chất cấu tạo nên mọi vật. Vì thế muốn có được chúng ta chỉ cần lấy từ trong không khí, sự việc tự nhiên như ta thò tay lấy vật dụng trong tủ vậy thôi.

   Ngoài khả năng kỳ lạ ấy, Satyanarayana còn có thể đi xuyên qua vách tường, nhìn xuyên qua sắt, gỗ, đất, đá. Ông ta có thể ngồi ở vị trí A và phân thân để đi đến vị trí B rồi trở lại mô tả tất cả những gì đang xảy ra tại vị trí B. Có lần ông bước xuyên qua một tấm gương chắn trước mặt. Sự kiện này đã được thực hiện trước một đám đông ước lượng đến mấy nghìn người. Tuy nhiên, mặc dù năng lực của ông không thua sút Sukeih Babu, người mà ông tự nhận là tiền thân của mình nhưng vẫn còn nhiều người không chịu tin ông chính là vị thánh sống ngày xưa của xứ Ấn. Một hôm trước một cử tọa rât' đông, nhiêu người đã yêu cầu ông chứng minh qua tài năng mình là hiện thân của Sudeih Babu. Ông đã mỉm cười và đưa cao 2 tay lấy từ trong không khí hai nắm lớn hoa trắng rồi thả hoa rơi xuống sàn sân khấu. Kỳ lạ thay, các hoa trắng này đã tức thì nối kết lại thành một dòng chữ. Đó là tên của vị thánh sống Ấn Độ ngày xưa Sudeih Babu.

   Các tư liệu đề cập đến Satyanarayana Raju có nhiều chi tiết rất lạ. Ngay lúc còn bé, Satyanarayana không chịu ăn thịt mà chỉ thích ăn chay. Thường ngày nhìn những người đói khổ đi ăn xin bằng đôi mắt thương xót. Cậu bé đầy lòng từ tâm đã luôn cắp gạo và thức ăn trong nhà để cho những người này...Nếu bất kỳ ai không tận mắt chứng kiến những gì cậu bé đã làm mà chỉ nghe qua lời kể lại thì chắc chắn sẽ cho đó là chuyện vô lý, huyền hoặc, không thể nào tin được. Nhưng ngay cả các nhà khoa học từ Nga, Ðức, Pháp, Hoa Kỳ... đến Ấn Ðộ và tận mắt xem qua những gì mà cậu bé đã làm thì đều phải kinh ngạc và thừa nhận rằng quả thật cậu bé Satayanarayana không phải là con người bình thường và những gì cậu làm thì không thể nào lý giải được là tại sao lại có thể làm được điều đó.



 



   Ðạo sư Trailinga

    Các tư liệu sách vở cổ xưa của xứ Ấn đã ghi lại rất nhiều về những con người có những quyền năng lạ lùng như Ðại Sư Trailinga một nhân vật phi thường có tuổi đời gần 300. Vị Ðại Sư này thường ăn rất ít, suốt ngày chỉ tham thiền nhập định trong một thiền viện nhỏ hẹp bằng đá và đất. Theo các tài liệu thu thập được của một tu sĩ thuộc phái Yoga tên là Yogananda, ( một vị thiền sư nổi tiếng của Ấn Độ) thì Ðại Sư Trailinga có nhiêu khả năng siêu phàm khó có ai tưởng tượng được như đi trên nước. Lặn sâu dưới nước mấy ngày vẫn không chết. Ðại Sư Trailinga còn có khả năng chữa được lành cho người bệnh nhất là bệnh nan y qua đôi tay của mình, nhiều người bệnh chỉ sờ vào đôi chân của Ðại Sư cũng đã thấy bệnh thuyên giảm do năng lực siêu đẳng trong người của ông ta truyền sang.

   Ðiều kỳ lạ là Ðại Sư Trailinga còn có thể uống bất cứ loại chất độc nào vào ngươì mà không sợ bị ngộ độc. Ngay cả những loại acid cực mạnh như loại acid nitrique đậm đặc cũng không làm miệng lưỡi gan ruột ông bị cháy. Sự kiện vừa kể thật ra khá phổ biến ở Ấn Ðộ thời xưa. Như có lần một phái đoàn ngoại giao của tiểu vương Ranjit Singh đã qua thăm nước Anh. Trong chuyến công du ấy, nhà vua đã đem theo nhiều người có khả năng siêu phàm để giới thiệu những khả năng về huyền thuật của người Ấn Ðộ. Một đạo sĩ đã cho các nhà khoa học tại đại học nổi tiếng của nước Anh là Ðại Học Oxford chứng kiến tận mắt những chất độc, những chất vô cùng nguy hiểm lưu trữ cẩn thận tại một kho chứa của phòng thí nghiệm hóa học đều được các đạo sĩ này yêu cầu dùng thử. Ông đã uống một số lượng chất acid đậm đặc, khói bốc nghi ngút trước một số đông giáo sư và sinh viên khiến mọi người đều kinh ngạc.

   Nhưng sự kiện làm cho các khoa học gia kinh ngạc hơn nữa là khi đạo sĩ này yêu cầu hãy đào một cái hố để chôn sống ông ta xuống đó trong khoảng 48 ngày. Lúc đầu các nhà khoa học Anh tỏ ý nghi ngờ nhất là các y bác sĩ tại các bệnh viện và các viện nghiên cứu y khoa. Những người này tỏ sự chống đối ra mặt. Khoa trưởng của một đại học Y đã phát biểu như sau:

   - Chúng ta không nên phí phạm thì giờ vào những trò bịp bợm, ảo giác. Nhà khoa học chỉ nên nghiên cứu và tìm hiểu sự kiện đúng với tinh thần khoa học thực nghiệm. Chưa đến lúc chúng ta tìm hiểu những trò vô bổ, những điều thực hiện qua kỷ xảo của những ảo thuật gia, những Fakir...

   Tuy nhiên khi tiểu vương Rajit Singh đoan chắc với chính phủ Anh là ông ta với thiện chí đã đem chút văn hóa, nghệ thuật và khả năng của người Ấn Ðộ nói riêng và Ðông Phương nói chung đến nước Anh và tuyệt nhiên không sử dụng bất cứ ma thuật nào thì viện trưởng Ðại Học Oxford đã gạt ra ngoài tai những chống đối vủa một số giáo sư, những nhà khoa học và yêu cầu vị đạo sĩ hãy thực hiện điều ông nói.

   Trước tiên các nhà khoa học yêu cầu được phép khám nghiệm, kiểm tra thể chất, sức khoẻ đạo sĩ. Ðây là ý đồ của các nhà khoa học muốn xem thử vị đạo sĩ này có uống loại thuốc gì hay không. Bác sĩ Claude Wade đã được chỉ định để lo phần nàỵ Người ta đào một cái hố vừa đủ để thả chiếc quan tài mà trong đó vị đạo sĩ nằm duỗi tay chân như người đã chết. Nắp áo quan được đậy lại cẩn thận có niêm phong. Người ta ghi chú giờ bắt đầu hạ huyệt và lấp đất chôn vị đạo sĩ. Dĩ nhiên suốt mấy ngày đêm đều có người túc trực canh chừng cẩn mật. Ðối với nhóm người chống đối, họ còn cắt cử riêng những người của họ theo dõi vì biết đâu là đã có sự ngấm ngầm hổ trợ, giúp đỡ của chính những vị giáo sư hay các nhà khoa học cho phái đoàn Ấn vì lý do chính trị, tôn giáo hay có lợi về tiền bạc bởi tiểu vương Ranjit Singh nổi tiếng là một người hào sản?

   Trong suốt 48 ngày tự chôn sống dưới đất qua sự kiểm tra nghiêm ngặt của các nhà khoa học, không ai nghĩ được rằng vị đạo sĩ kia sẽ còn sống khi mộ huyệt được khai quật.

   Ðúng vào ngày thứ 48, vào lúc 11 giờ 20 phút trưa, Ủy Ban Khoa Học, đại diện Ðại Học Oxford và rất nhiều nhân vật tay mắt của nước Anh đã có mặt tại địa điểm và hồi hộp theo dõi kết quả của một sự kiện đã gây sôi nổi dư luận trong nước. Khi nắp quan tài được bật mở, bác sĩ Claude Wade là người được phép quan sát trước tiên. Với ống nghe trong tay, vị bác sĩ này đã khám nghiệm xem thử vị đạo sĩ còn thở hay không. Chỉ mấy phút sau vừa lúc ông ta gục gật đầu việc tỏ ý mọi việc vẫn tiến triển tốt nghĩa là vẫn còn nghe được nhịp thở và nhịp đập của tim thì vị đạo sĩ từ từ ngồi dậy ngay trong chiếc quan tài chưa kịp mang lên khỏi mộ huyệt. Mọi người lúc bấy giờ đều há hốc mồm, kinh ngạc. Như vậy, một con người bằng xương bằng thịt, chui vào trong áo quan đậy kỹ rồi đem chôn hơn một tháng rưỡi trời, không ăn không uống, không thở, không hoạt động...nhưng vẫn sống ? Ðiều này đối với khoa học có phải là chuyện vô lý giả tưởng hay không? Nhưng rõ ràng mọi sự đều diễn ra ngay trước mắt họ ?

  


 


  Mưa máu và thịt

    Thịt và máu từ trên trời rơi xuống sinh ra một hiện tượng lạ lùng hiếm có kể cả nghành kỹ thuật hiện đại quen thuộc với sự di chuyển của không khí cũng đành bó tay.

   Mưa máu, và có vài vụ còn có cả thịt tươi, đã được ghi chép vào lịch sử trên toàn thế giới. Những hiện tượng lạ kỳ này đôi khi là nguyên nhân khiến người ta khiếp sợ, vì thường thường nó là một điềm xấu như ngày tận thế chẳng hạn.

   Tại tiểu bang North Carolina (Mỹ) vào thế kỷ thứ 19, có hai vụ mưa máu và thịt từ trên trời rơi xuống đã được ghi nhận. Một vụ tại thị xã Sampson, còn vụ khác tại thị xã Chatham, và hai vụ này đã xảy ra cách nhau 34 năm.

   Vụ mưa thịt đầu tiên xảy ra vào ngày 15 tháng 2 năm 1850 tại tiểu bang North Carolina, ngay trên nông trại của gia đình vợ chồng ông Thomas Clarkson, khoảng 34km về hướng Tây Nam thuộc thị trấn Clinton. Vào ngày xảy ra vụ này, một mẫu thịt từ trời rơi xuống đã được một người tên là Holland đưa đến Fayetteville để khảo nghiệm.

   Những lời tường thuật của gia đình ông Clarkson về sự kiện này đã được ông Holland ghi lại và đăng trên báo North Carolinian, một tờ báo lớn tại thành phố Fayetteville. Ông ta nói rằng: Ngày 15 tháng 2 năm 1850, một cơn mưa máu và thịt đã rơi xuống ngay nơi gia đình ông đang cư ngụ, trong vòng một thửa đất 300m vuông. Những miếng thịt rơi xuống vẫn còn rất tươi, lẫn trong đó còn có gan, phèo, phổi và máu; và những giọt máu đọng trên những chiếc lá cây cũng có màu đỏ rất tươi.

   Ba người con trai của ông là T. M. và C. khi thấy hiện tượng kỳ lạ này đã vội chạy vào nhà la ầm ĩ: “MẸ ƠI! THỊT TỪ TRÊN TRỜI RƠI XUỐNG.” Bà mẹ chạy vội ra ngoài thì mưa đã tạnh trời rất trong xanh nhưng khi bà nhìn xuống đất thì thấy những mảnh thịt vụn nằm rải rác khắp nơi. Người hàng xóm ở cạnh bên nghe tiếng kêu la cũng chạy vội ra ngoài và đã thấy như trên. Một đứa con của ông ta ở cách đó khoảng 125m cũng vội vã chạy đến và kể rằng, trong thời gian xảy ra hiện tượng này anh ta ngửi thấy mùi gì giống như máu và ngay lúc đó trên trời xuất hiện một đám mây màu đỏ.

   Một mẫu thịt đã được ông Holland đưa đến phòng thí nghiệm để kiểm tra. Sau khi thí nghiệm bằng hai ống kính hiển vi tinh xảo nhất thì tất cả mọi người đều đồng ý rằng đó là máu và thịt thật, nhưng từ cái gì , con gì thì họ không biết được.

   Vụ mưa máu thứ hai được ghi nhận cũng tại tiểu bang North Carolina xảy ra vào ngày 25 tháng 2 năm 1884. Bà Kit Lasater, vợ của một người nông dân da đen sống trên nông trại Silas Beckworth trong thành phố Hope Township thuộc tỉnh Chatham về phía Bắc của con đường Pittsboro-Raleigh Road, trong khi bà ta đang đứng trên một thửa ruộng mới cày xong gần nhà kho chỉ một khoảng cách ngắn nơi mà gia đình bà ta lúc đó đang cư ngụ, không biết từ đâu những giọt máu lã tã rơi trên lùm cây, trên hàng rào và chung quanh bà. Bà ta nói rằng khi hiện tượng này xảy ra, bầu trời lúc đó rất trong sáng không một đám mây che phủ.

  Sự việc này được truyền miệng từ người này đến người kia, những người hiếu kỳ khi nghe sự kỳ lạ này đã đến tại chỗ để tìm hiểu. Những người đầu tiên đến nông trại là bạn bè và hàng xóm láng giềng nhưng khi tin tức lan truyền rộng rãi thì những người hiếu kỳ ở những nông trại xa hơn cũng tìm đến. Không bao lâu sự kiện kỳ lạ này đã được tờ báo Chatham Record đăng tải như sau:

   “Rất nhiều người láng giềng sau khi nghe bà Kit Lasater kể về hiện tượng quái dị này, họ đã kéo nhau đến ngay tại chỗ để xem xét và đều nói rằng trên mặt đất – bao gồm một diện tích khoảng 6m vuông chu vi – bao phủ những vết dơ bẩn giống như máu, và trong số người đó có một người thấy được những giọt máu tươi còn đọng trên những chiếc lá và cành cây. Khi nghe tin này, chúng tôi liền báo tin cho một người bác sĩ có tiếng trong vùng đến điều tra và ông đã nói rằng đó chính thật là máu.”

   Còn một người khác nữa có tên là Holleman, ông cũng là người đầu tiên đến tận chỗ xem xét và ghi lại từng chi tiết tỉ mỉ như sau:

“Một vùng đất, khoảng từ 4-6m vuông giống như một hình chữ nhật, rải rác những giọt đen bằng đầu ngón tay, cứ một vết cách nhau khoảng 1m. Những giọt nhỏ hơn thấm vào đất ngay lập tức còn những giọt lớn hơn rơi trên cây thì đông lại.”

   Những đồ vật lấy từ nông trại như lá cây có dính máu hoặc đất cát có máu đều được đem đến Viện Ðại Học North Carolina nằm tại Chapel Hill cách đó chỉ vài cây số. Những thứ đó đã được Giảng Sư Hóa Học có tiếng tên là Francis Preston Venable khảo nghiệm. Giảng Sư Francis P. Venable là một giảng sư tài năng nhất trong vùng, ông ta đã nhận bằng Tiến Sĩ Hóa Học tại Viện Ðại Học Gottingen Ðức Quốc.

   Lúc đầu, ông ta xem xét và thử nghiệm nhiều lần cùng với các bạn đồng nghiệp tại viện Ðại Học, nhưng vì hiện tượng máu từ trời rơi xuống quá lạ lùng làm cho mọi người đều nhắc đến nên ông đã đích thân đi thăm viếng nông trại tại thị xã Chatham để quan sát. Từ sự phỏng vấn trực tiếp với bà Lasater, ông có thể hiểu được những gì mà bà ta đã nhận xét:

   “Máu rơi xuống từ một bầu trời không mây. Khi gió nhè nhẹ hầu như không cảm thấy được,” Giảng Sư Venable viết. “Nơi những giọt máu rơi được trông thấy trên hàng rào cho biết gió nhẹ từ phương Nam hay từ hướng Tây Nam thổi tới đi ngang qua mảnh đất cày cấy này. Người đàn bà đứng trên thửa ruộng đã cày xới, gần hàng rào, dọc theo hàng rào có trồng vài bụi thông nhỏ. Bà ta chú ý thấy cái gì đó rơi xuống đất chung quanh bà ta. Bà ta thấy nó rơi xuống từng giọt đỏ lòm tung tóe trên đất cát, bà ta còn nghe tiếng lộp cộp như mưa ở chung quanh. Bà nhìn lên trời và thấy những giọt máu đỏ đang rơi xuống như mưa sau đó bà không còn thấy gì nữa. Bà đã quá sợ hãi và xúc động đến cực độ vì bà nghĩ rằng đó là một dấu hiệu của ma quỷ hoặc là điềm xấu báo trước sự chết chóc...”

   Sau khi trở về phòng thí nghiệm, Giáo Sư Venable đã sắp đặt vài cuộc thử nghiệm trên những thứ đã được lấy về từ nông trại. Ông ta dẫn vài chất hóa học và làm thí nghiệm qua máy quang phổ và kính hiển vi đã đưa ông đến kết luận rằng những thứ đó quả thật là máu, nhưng chính xác máu loại nào thì vẫn chưa biết được.

   Giáo Sư Venable đã tóm tắc những gì mà ông ta tìm được trong những lời như sau:

   “Những thứ được thí nghiệm này để lại rất ít hoặc không có lý do gì để hoài nghi rằng những thứ này không phải là máu. Nhưng câu hỏi chính là nó đã từ đâu đến, trong khi không có một con vật nào bị giết trên mảnh đất đó, như là heo không bao giờ bị thọc tiết tại cánh đồng này, như những sự giải thích lý luận riêng về một vật rơi xuống từ bầu trời không mây thì tôi không có những lời lẽ gì hợp lý để đưa ra.

   Ðó có thể là những con chim tha một con mồi đang rỉ máu, nhưng không thể có nhiều máu rơi xuống trên một vùng đất rộng lớn như thế? Nếu đây là một trò đùa của những người láng giềng thì nó nhất định là một trò đùa làm rất khéo léo và vật thể có vẻ thiếu sót, cho nên chắc chắn đây là không phải trò đùa. Tôi thấy rằng sự kiện lạ lùng này đáng chú ý và cần rất nhiều sự giải thích chính xác.”

   Ðáng tiếc thay, gần một thế kỷ trôi qua từ ngày tiến sĩ hóa học Venable phân tích mưa máu tại thị xã Chatham, North Carolina, cho đến bây giờ những nhà khoa học gia vẫn còn thất bại trong việc giải thích làm thế nào máu và thịt có thể từ trời rơi xuống.


   John Hairr



 



   Biến mất vào hư không

   Một câu chuyện lạ kỳ mà tôi chú ý nhiều nhất là câu chuyện về đứa con trai của một gia đình nông dân người Gia Nã Ðại tên là Michael Norton, 12 tuổi, bỗng dưng biến mất vào một buổi sáng mùa đông khoảng 60 năm về trước.

   Cuộc tìm kiếm cậu bé đã diễn ra liên tục trong nhiều năm trời; bởi vì, mặc dù cậu bé biến mất, không thấy được thân thể vật chất, nhưng cha mẹ của cậu bé và hàng trăm người điều tra viên đều nghe được tiếng gọi yếu ớt của Michael trong vòng một khu đất chỉ vài ba thước.

   Ngày xảy ra sự việc, Michael đã ngủ quá giấc. Khi cậu bé hối hả xuống lầu ăn buổi điểm tâm sáng trước khi ra chuồng gia súc để vắt sữa bò như mọi ngày, lúc đó cha mẹ và người dì của cậu bé cùng với hai người nông phu làm việc cho cha cậu bé cũng có mặt; họ đang ăn sáng và cùng nhau trò chuyện. Vài phút sau, mẹ của cậu bé nhìn cậu lê những bước chân mệt nhọc nặng nề đi về hướng chuồng bò... Nhưng bà ta không thể ngờ rằng đó là lần cuối cùng bà nhìn thấy đứa con trai của mình.

   Vài giờ sau, ngạc nhiên về sự vắng mặt của Michael nên ông Ruth Norton (cha cậu bé) lên tiếng gọi:

   - Michael ơi! Hãy về nhà đưa hai đứa em đi học không thôi sẽ trễ giờ.

   Sau khi réo gọi vài lần vẫn không thấy cậu bé vào nên ông Norton bực mình mang đôi giầy da vào rồi ra ngoài để lôi cổ cậu bé về.

   Khi ông ta đi vào chuồng bò thì thấy một chiếc ghế đẩu và một cái xô sữa mới vắt được một nữa vẫn để ở đó nhưng cậu bé lại đi đâu mất.

   Sau khi tìm kiếm khắp mọi nơi vẫn không thấy bóng dáng cậu bé, nên ông kêu gọi tất cả mọi người trong gia đình và những người làm hãy việc lục soát từng nơi trong nông trại kể cả những vùng phụ cận nhưng tông tích của cậu con trai vẫn biệt tăm.

   Linh tính có sự việc gì không may xảy ra, ông Norton đã vội vã lái xe đến trại cảnh sát ở gần đó báo cáo về sự mất tích của đứa con trai mình. Vài tiếng sau cảnh sát đến nông trại cùng với chú chó đánh hơi. Sau khi đưa con chó ngửi chiếc áo Michael đã mặc thì con chó lấy mũi ngửi dò theo dấu vết của Michael, nó dẫn từ cửa nhà bếp ra đến chuồng bò rồi sau đó đi thẳng đến đồng cỏ ở phía Nam nhưng khi đến giữa đồng thì nó bỗng nhiên ngừng lại. Với sự ngạc nhiên, người huấn luyện thúc đẩy con chó đi tới trước nhưng con vật chỉ đứng yên một chỗ rồi sủa lên vài tiếng.

   Vết tích đã mất! Chuyện gì đã xảy ra vậy? Không ai có thể giải thích được. Có vài nhóm người chuyên môn huấn luyện chó đánh hơi để tìm người mất tích, cũng dẫn những con chó điêu luyện đến nhưng cũng không tìm được tông tích gì cả. Những con chó đánh hơi chỉ ngửi đến giữa cánh đồng thì không chịu đi nữa...

   Sau những đêm dài chờ đợi, khi niềm hy vọng tìm lại đứa con trai còn sống sót của họ bắt đầu héo dần thì cả gia đình hớn hở khi nghe tiếng gọi ở bên ngoài, đó là Michael và cậu ta đã gọi một tiếng “Me” mà không một đứa con trai nào khác trong vùng gọi mẹ như vậy.

   Cả nhà vội vã chạy ra sân, la lớn trong sự vui mừng... nhưng họ đã ngưng lại ngay vì không thấy ai cả ngoài một màn đêm dầy đặc! Rồi tiếng gọi lại vang lên: “Me!” rõ ràng là Michael, cha mẹ của cậu bé nhận ra tiếng của con trai mình. Họ rọi đèn tìm kiếm nhưng vẫn không thấy cậu bé Michael đâu cả. Họ gọi tên của cậu bé nghe inh ỏi cả một vùng trời, như xé nát cả màn đêm âm u tĩnh mịch... nhưng vẫn không thấy cậu trả lời có chăng chỉ là những tiếng kêu Michael loãng trong màn đêm xa vắng.

   Nửa tiếng sau, trong khi họ đang đứng trên sân nhà với sự thất vọng tràn trề thì lại nghe tiếng cậu bé tha thiết gọi “Me” và lần này cậu ta còn nói thêm: “Me ơi! Me đang ở đâu vậy?”... Cha mẹ cậu bé đã kể lại như vậy.

   Nhiều người đã đến nông trại và nghe cái tiếng lạc loài cầu cứu của cậu bé mà đau lòng. Mọi người đều cho rằng có thể cậu bé đã rơi vào một giòng sông cạn nằm sâu trong lòng đất, một cái giếng cũ lâu đời, hoặc là bị té xuống một kẻ nứt trong lòng đất. Nhưng những cái giả thuyết này đã bị loại bỏ khi một nhóm người chuyên môn về địa thế đến xem xét vùng đất này. Họ đã dùng máy chụp ảnh trên không trung để tìm những rãnh nứt dưới lòng đất, nhưng không thấy dấu hiệu nào chứng tỏ có đường nứt trong lòng đất trên cánh đồng nơi cậu bé đã mất dạng.

   Vào những tuần lễ kế tiếp, cha mẹ của cậu bé và những người hàng xóm nghe tiếng nói xa vời của Michael Norton từ từ nhỏ dần theo ngày tháng. Cậu bé như là ở trong một nơi sương mù dầy đặc nhưng có quyền di chuyển tự do. Sau một thời gian thì tiếng nói của cậu bé im bặt...

   Michael Norton đã thật sự biến mất vào hư không!

   Nhiều người cho rằng: Có thể có cánh cửa vô hình nào đó đã mở ra trong hư không mà nơi đó Michael đã rơi hoặc bị cuốn hút vào? Cái đó như là một thể vẫn (hóa học) của những quy luật bình thường được thấy bởi con mắt người nhân gian như là một “màn sương khói” hoặc vài sự kiện khác như sự biến đổi của ánh sáng chẳng hạn? Và có thể vì sự kiện lạ kỳ này đã làm cho Michael để ý đến? Và cậu bé đã chạy ra cánh đồng để nhìn cho biết vì vậy bị cuốn hút vào con mắt trong cái kim của thời gian ( the “eye” in the needle of time ) chỉ một thoáng giây?


* Trích từ “What’s Out There?” do nhà xuất bản Sterling Publishing Co, Inc. ấn hành và Tamlinh chuyển ngữ.

 



   Những hiện tượng kỳ lạ trong thế kỷ 20

    TRỜI CHO

   Ngày 21/5/1921, hàng ngàn con ếch nhái, cá rơi xuống Gibraltar trong môt trận giông bão... Ngày 4/3/1998, một trận mưa ở Shirley, Croydon, phía Nam London (Anh Quốc) đã mang theo cả một lượng lớn ếch nhái đã chết. Các nhà khí tượng giải thích đó là do hiện tượng vòi rồng từ một ao hồ nào đó. Tuy nhiên, đây không chỉ có loại cá, ếch nhái từ một ao hồ nhất định.

   Ngày 23/10/1947, chỉ sau một trận mưa bác sĩ Bajkov nhìn thấy nhiều loại cá chết lẫn sống nằm la liệt trên một con đường ở Biloxi, Mississippi, nơi ông đang ăn sáng trong một tiệm café.

   Ngày 27 và 28 tháng 5 năm 1984 hàng tá cá bơn và cá ốt-me được phát hiện thấy trong các vườn ở phía Ðông nước Anh sau một trận mưa lớn. Trong suốt đêm đó người ta không hề thấy một cột nước nào bốc lên từ sông Thames.

   Một đêm náo nhiệt vào năm 1917, sinh viên Ester Hallio và một người bạn học tên là Finish ở trong một ngôi nhà tại Helsinki (Phần Lan) bỗng nghe tiếng lẻng xẻng, khi ra ngoài họ phát hiện có 2 cái khuy áo trên sàn nhà; và vài phút sau họ lại thấy những đồng tiền xu rơi xuống. Những người quanh vùng cũng đã chứng kiến được những hiện tượng tương tự. Những vụ rơi kim loại hoặc những vật thể khác cũng xảy ra ở Wellinton (New Zealand) tháng 3/1963 khi những đồng tiền xu và đá rơi xuống một ngôi nhà trong 3 ngày liền trước sự chứng kiến của 600 người. Tại Ramsgate, Kent (Anh), năm 1968, có từ 40 đến 50 đồng xu rơi xuống trong vài phút. Tại Galax, tiểu bang Virginia (Mỹ) ngày 12 và 14 tháng 7 năm 1978 có khoảng 400 chiếc đinh rơi xuống trong 3 ngày.

 

   KHẢ NĂNG KHÁC THƯỜNG

   Người nam châm (có từ tính) không còn là hiện tượng kỳ lạ ở thế kỷ 20. Thay vào đó là những năng lực khác khiến chính người có nó cũng phải kinh sợ. Năm 1935, cô Gertrude Smith ở tiểu bang Pennsylvinia (Mỹ) phát hiện thấy mình có thể bằng liệu pháp tinh thần thuyết phục những con gà đẻ trứng có in hình ảnh như những cánh hoa hướng dương hoặc chữ viết tắt tên của cô. Có nhiều người chứng kiến khi cô khiến con gà để ra quả trứng có in hình tam giác. Sau lần đó vì quá sợ hãi với khả năng không bình thường của mình, cô đã không bao giờ thể hiện lại được.

   Vào năm 1986, quần áo, tủ giường, chăn đệm và đồ điện đã bốc cháy khi có mặt cậu bé Sascha 13 tuổi sống ở donetsk (Ucraina). Các vật khác trong nhà cũng bay lượn, còn tủ lạnh bị lật úp. Sascha được đưa đến một bệnh viện ở Moscow để bác sĩ Victor Korchenko kiểm tra. Ông nói: “Khi Sascha ở trong bệnh viện, quần áo của những người ở trong phòng với cậu bị bốc cháy. Một nhân chứng còn nói rằng giày của anh tự nhiên tuột ra khỏi chân khi Sascha bước vào phòng”.

   Nhà ảo thuật gia có tên David Blaine tự chôn sống trong quan tài suốt 7 năm từ năm 1992-1999 mà không cần ăn (chỉ uống 3-4 thìa nước mỗi ngày) đã khiến cả thế giới kinh ngạc.

  Ðây là những hiện tượng lạ kỳ chưa có ai giải thích được.


 




  Những nhà tiên tri lừng danh thế giới

   Nhắc đến các nhà tiên tri trên thế giới, người đầu tiên nhân loại nhớ đến là Nostradamus bởi khác với những nhà tiên tri khác, ông có khả năng đoán vận mệnh thế giới trong một thời gian dài, thậm chí đến vài thế kỷ.

  Những lời tiên đoán của Nostradamus về những biến cố trọng đại của thế giới như tật bệnh, chiến tranh, về các thiên tai khủng khiếp, hầu hết đều được chứng minh trong thực tế. 

   Sinh ra và lớn lên tại xứ sở của rượu vang, Nostradamus từ nhỏ đã bộc lộ những tài năng trời phú, nhất là ở bộ môn toán học, thiên văn và chiêm tinh. Tốt nghiệp trường đại học, Nostradamus trở thành một bác sĩ cho đến khi dịch hạch ập đến cướp đi tính mạng tất cả thành viên trong gia đình ông.

   Rời bỏ quê hương, Nostradamus bỏ đi lang thang đến nhiều nơi trên đất nước Pháp và Ý. Mang tâm trạng u uất và đau khổ, “người đàn ông với đôi mắt sâu thẳm” đến với một niềm đam mê mới trong ngành khoa học huyền bí. Năm 1550, ông cho xuất bản  “đứa con” đầu tiên trong sự nghiệp tiên tri của mình và mang lại thành công bất ngờ.  

   Nostradamus tiếp tục sự nghiệp với hơn 1.000 bài thơ tứ tuyệt mà sau này đã trở thành những lời Sấm Ký của loài người. Tuy nhiên, để tránh con mắt soi xét của chính quyền, ông phải dùng biện pháp chơi chữ và các loại ngôn ngữ khác như Hy Lạp, La Tinh, Italy, Do Thái và Ả Rập…

   Chính điều này đã gây khó khăn cho việc phiên dịch những lời sấm của cấc tầng lớp hậu duệ. Cuốn sách “Les propheties”(tạm dịch là “Những lời sấm”) của ông ra đời gây nhiều sự phản ứng trái ngược của công chúng. Có người cho ông là tay sai của quỷ dữ, một kẻ ngông cuồng và dối trá, song cũng có rất nhiều người ủng hộ ông, đặc biệt là tầng lớp quý tộc.  

   Qúy tộc khắp nơi đổ dồn về xin nhà tiên tri này những lá số tử vi và lời khuyên cho cuộc đời họ. Một trong những người vô cùng sùng mộ Nostradamus là hoàng hậu Catherine de Médicis, phu nhân của vua Henry đệ II.

   Sau khi đọc quyển Niên Giám cho năm 1955 của Notradamus trong có ám chỉ một tai họa sẽ giáng xuống cho gia đình hoàng tộc, bà liền triệu ông về Paris để giảng giải tường tận, đồng thời lập lá số tử vi cho các hoàng tử, công chúa (sau này chính bà là người phong cho ông tước Nhà cố vấn và bác sĩ của hoàng gia). Bắt đầu từ thời điểm này, Nostradamus liên tục gây được tiếng vang lớn, khẳng định ngôi vị thứ một của ông trong ngành khoa học huyền bì thế giới.  Cái chết được nhà tiên tri báo trước của vua Henry đệ nhị . Sư tử con sẽ vượt qua sư tử già. Trong cuộc chiến chỉ có một trận đánh. Nó sẽ đâm thủng mắt từ trong lồng vàng. Hai vết thương và một cái chết thảm thương. Đó là một trong số ít những lời sấm dễ hiểu và chính xác nhất của Nostradamus được ghi trong quyển Thế kỷ 1, câu 35. Phớt lờ lời cảnh báo về cái chết đau đớn này, vua Henry II vẫn nhận lời giao đấu với bá tước Montgomery. Cả hai người cùng đeo khiên khắc hình sư tử và Montgomery - “sư tử con” ít hơn “sư tử già” 6 tuổi. Cuộc chiến diễn ra hoàn toàn trùng khớp với lời sấm, vua Henry bị mù mắt do bị Montgomery mất đà đâm giáo vào miếng che mắt mạ vàng. Cùng với hai vết thương nặng, Henry đã phải trả giá cho việc từ chối nghe theo lời sấm của Nostradamus và ra đi sau 10 ngày nằm trên giường bệnh

   Cảnh báo việc Napoleon bại trận ở Nga. Năm 1812, được sự ủng hộ của một số quân đồng minh như Italy, Áo và Đức, Napoleon đem quân xâm chiếm nước Nga. Đội quân viễn chinh hùng mạnh này đông tới 600.000 người, tuy nhiên cũng hoàn toàn chịu bó tay khi quân đội Nga dùng chiến lược tiêu thổ, rút quân để lại những thành phố hoang tàn trơ trụi. Không còn cách nào khác, đội quân của Hoàng đế chỉ còn đường rút lui đúng lúc mùa đông lạnh giá ập đến. Kết cục quân sĩ chết rải rác dọc đường lui quân và chỉ còn sống sót vài nghìn người. Nếu như Napoleon chịu nghe theo lời cảnh báo của Nostradamos trước đó, chắc chắn đã không phải nhận kết cục thảm thương như thế. Lời sấm của Nostradamus đã cảnh báo trước rằng: Một đội quân lớn sẽ tràn vào nước Nga. Những người bị xâm lược sẽ phá hủy một thành phố Quân chủ lực sẽ phản công. Những kẻ chiến bại sẽ chết trên miền đất trắng

   Lời sấm về cuộc đời và số phận của Napoleon Hoàng đế vĩ đại sẽ khởi đầu với một vị trí thấp kém và nhanh chóng trở nên lớn mạnh. Nơi nhỏ hẹp sẽ trở thành trung tâm. Khi ông giành được quyền lực tối cao. Ông hoàng chiến bại bị lưu đày ở Elba sẽ trở về Marseilles qua vịnh Genoa. Nhưng không vượt qua được các thế lực ngoại bang. Tuy thoát chết nhưng vẫn phải đổ máu. Tiếp sau thất bại tại Nga là những tháng ngày đen tối liên tiếp của vị hoàng đế tài ba Napoleon. Ông bị đày ra đảo Elba song vẫn không yên vì vua Louis XVIII đã cử quân đội đến để bắt giữ ông. Sau khi thu phục lại một phần quân đội của mình và chiến đấu chống liên quân nằm dưới quyền chỉ huy của Công tước Wellington, thất bại tại trận Waterloo, Napoleon tuy thoát được cái chết nhưng vẫn bị tước hết chức vị và phải đi lưu vong cho đến khi ông qua đời vào năm 1821. Có thể thấy không phải ai khác, mà chính lịch sử đã chứng nhân hùng hồn nhất cho khả năng tiên đoán thần kỳ của Nostradamos.

   Vụ hỏa hoạn thảm khốc ở London năm 1966. Máu của thần công lý sẽ bao phủ London Thành phố sẽ cháy vào năm 66. Vị phu nhân mất địa vị tối cao và nhiều nơi bị hủy hoại. Vụ hỏa hoạn này cũng được Nostradamus báo trước trong Quyển Thế kỷ 2, câu 51. Đây cũng là một trong những lời sấm gây ngạc nhiên nhiều nhất vì ông còn dự đoán chính xác cả năm xảy ra thảm họa. Có lần một quý tộc đã thử tài ông bằng cách chỉ cho ông hai con heo và hỏi tương lai của chúng. Nostradamus suy nghĩ một hồi lâu rồi bảo: “Con heo lông xám trắng sẽ bị chó sói ăn còn heo lông đen thì ngài và quan khách sẽ ăn thịt nó”. Để làm sai lời đoán, nhà quý tộc sai gia nhân giết heo trắng để đãi khách. Nhưng sau khi đã giết heo, đầu bếp mãi lo nấu các món khác, bất ngờ có một con chó sói lén tha con heo đã làm thịt, người nhà la lên đánh đuổi sói thì nó đã kéo chạy mất buộc lòng phải làm luôn con heo lông đen. Biết rõ chuyện, từ đó nhà quý tộc hết sức bái phục nhà tiên tri này. Nostradamus còn tiên đoán được sự kiện phi thuyền con thoi của Mỹ bị nổ tung khi được phóng khỏi giàn phóng. Ông thậm chí biết trước cả ngày tháng năm ông mất (2/7/1566). Nhà tiên tri đã cho bọn đào trộm hầm mộ một phen kinh hãi khi nhìn thấy dấu tích ghi ngày tháng năm ông tạ thế trên bàn tay ông trong hầm mộ. 

   Về tương lai, nhà tiên tri còn cho rằng sẽ bùng nổ cuộc chiến tranh thế giới thứ ba kéo dài 30 năm, bắt đầu từ năm 1999. Lúc bấy giờ Pháp là quốc gia bị thiệt hại nặng nề. Trước đó là sự xích lại gần nhau của hai siêu cường Nga, Mỹ sau cuộc thế chiến thứ 3 đầy tàn khốc, nhân loại có ai còn sống sót sẽ sống một thời gian dài thái bình an lạc. Cũng theo nhà tiên tri Nostradamus thì ngày thế giới tận thế sẽ là một ngày nào đó của năm 3979. Trước đó sa mạc Gobi sẽ biến thành biển.

   Cái chết của cố Tổng thống Mỹ Kennedy đã được tiên đoán trước 11 năm.

   Bà Jean Dixon - một nhà tiên tri đã cảnh báo trước cho ngài Tổng thống Mỹ đầy quyền lực Kennedy về một vụ mưu sát cận kề. Tuy nhiên, không ai tin lời bà. 11 năm sau lời tiên toán ấy, Kennedy dính đạn và chết trong sự kinh hãi của dân chúng về lời tiên tri quá chuẩn xác.

  Ở Thụy Điển có một người "thấy được tương lai" nổi tiếng khác là Emanuel Swedenborg. Sinh năm 1688 và mất năm 1772, ông có hiểu biết sâu sắc ở rất nhiều lĩnh vực, từ khoa học, thiên văn, tôn giáo, toán học, lịch sử, địa chất đến đại dương, sinh học, cơ khí, vũ khí, tàu bè... Nhà tiên tri này được coi là nhà bác học của thế kỷ 18. Ông đã làm các thành viên trong gia đình vô cùng kinh sợ khi đang dùng bữa tối, ông bỗng giật mình nói to: “Đang có trận hỏa hoạn lớn xảy ra tại Stockhom" ( Stockhom là quê hương của ông ). Điều kỳ lạ là nhà tiên tri này đang ở cách Stockhom những 500 km. Thậm chí, nhờ “thần nhãn” của mình, Emanuel còn biết đám cháy đã lan đến đâu, ông tả chính xác việc đám cháy bị dập tắt như thế nào và thở phào nhẹ nhõm khi “nhìn thấy” đám cháy được dập khi chỉ còn cách nhà mình vài ba ngôi nhà nữa thôi! 

  Khi nhắc đến các nhà tiên đoán tương lai Trung Quốc, không thể nào không nhắc đến một nhân vật nổi danh thế giới về lĩnh vực này. Người đó chính là Khổng Minh Gia Cát Lượng. Ông là quân sư của Lưu Bị đời Tam Quốc. Gia Cát Lượng thường tiên đoán rất nhanh mọi việc bằng phép Chiêm Bốc hay Bốn Độn.

   Khổng Minh là người được xem như chịu ảnh hưởng nhiều nhất về âm dương Dịch Lý trong vũ trụ. Các sách của Gia Cát Khổng Minh về phép Độn Toán còn lưu lại đến ngày nay rất nhiều cuốn Khổng Minh Thần Toán. Các tiên tri của ông còn truyền tụng mãi đến bây giờ với những hiệu quả rất lạ và đúng dù ông đoán trước cả mấy trăm năm.  Nước Mỹ là quê hương của một phụ nữ lừng danh về đoán biết tương lai - bà Jean Dixon. Bà là một người có thế đứng trên chính trường Mỹ thời bấy giờ, lời nói của bà rất có trọng lượng. Tuy nhiên, không ai tin lời bà khi năm 1952, người phụ nữ tài ba này đưa ra một tin giật gân rằng Tổng thống Kennedy sẽ bị ám sát. Lời tiên đoán ấy mãi đến 4 năm sau mới được báo chí mới lan truyền.  Bà Dixon cố thuyết phục người thân của tổng thống là tổng thống nên bảo trọng vì ngày nguy hiểm đã gần kề. Tuy nhiên, không ai dám đưa lời tiên đoán ấy đến tổng thống vì Kennedy là một người rất ghét chuyện bói toán. Sáng 23/11/1963, Dixon cảm thấy lo lắng trong lòng, bà nôn nao hồi hộp thấy rõ và nhà tiên tri khẳng định với một người bạn tên Harley Cope rằng: “Tôi rất lo, vì hôm nay chắc chắn tổng thống sẽ bị ám sát!” Và quả thật, sự việc đã xảy ra đúng như bà Dixon đã tiên đoán; Tổng thống Kennedy đã bị ám sát.

    Những chuyện kể trên đều là khả năng của những nhà bói toán, tiên tri. Tuy nhiên, có những người bình thường cũng có được khả năng ấy. Báo chí Mỹ đã từng đăng một tin khá lạ lùng về một nữ nhân viên kỳ cựu trong đội cứu hỏa thuộc tiểu bang Georgia, đại úy  Becky Denlinger, một trong đội cứu hỏa. Ngày 8/11/1989 trong một giấc mơ khủng khiếp, bà thấy toàn thể nhân viên trong đội cứu hỏa của mình được huy động đến cứu chữa khẩn cấp một tòa cao ốc đang bốc lửu vì bị một máy bay phản lực đâm nhào vào. Cảnh tượng thật hỗn loạn và có rất nhiều người bị thương, tiếng la hét và một tiếng nổ kinh hoàng. Kinh hãi tỉnh dậy, mồ hôi tỏa khắp người, bà kể lại giấc mơ kỳ lạ cho các nhân viên trong đội cứu hỏa nghe. Nhiều người kết luận rằng đó là hiện tượng tự kỷ ám thị mà thôi. Nhưng chỉ sau đó không đầy một giờ, toàn bộ đội cứu hỏa của Becky Denlinger phải tức tốc lên đường cứu chữa một đám cháy lớn tại một cao ốc ở cách chỗ họ 60 km. Một phản lực của hải quân Mỹ đã bị nổ và đâm vào tòa nhà làm phát ra đám cháy lớn, khiến nhiều người bị thương và hai người thiệt mạng. 

    Một em bé tên là Eryl Mai Jones một hôm thức giấc kể cho mẹ nghe rằng trong giấc mơ, em thấy một vật to lớn dị thường màu xám đen không biết từ đâu ập tới cày nát ngôi làng gia đình em ở. Hôm em bé nằm mơ là ngày 20/10/1966. Người mẹ cứ nghe con kể mãi chuyện cái khối đen thì bực mình bảo con nói nhảm.  Nhưng qua ngày hôm sau, 21/10, tự nhiên dân làng nghe những tiếng động phát ra làm long trời lở đất, cả ngôi làng bị những khối than đá khổng lồ đổ xuống che phủ. Nhiều người trong làng đã bị chôn vùi, một số lớn bị chết, chỉ khoảng 100 người may mắn thoát chết nhưng cũng bị thương nặng. Trong số đó có người mẹ của em Eryl Mai Jones. Điều kỳ lạ là những người sống sót cũng kể rằng, trước đó họ nằm mơ hoặc nghe người thân kể lại giấc mơ y hệt giấc mơ mà bé Erylk đã kể cho mẹ nghe


  



   Nhiều nguyên thủ tin vào điềm báo từ trời



     Nghe nói có thiên thạch lớn phát nổ ở ngoại ô Cát Lâm, cố chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông linh cảm có chuyện chẳng lành. Theo ông, trong nhân gian sắp xảy ra biến cố lớn.

   Cuốn Những ngày cuối cùng của Mao Trạch Đông viết theo lời kể của Tiểu Mạch, hộ lý chăm sóc sức khỏe cho Mao suốt 20 năm, có thuật lại câu chuyện xảy ra vào những ngày cuối đời ông:

   Một buổi chiều năm 1976, Mao được cô hộ lý đọc báo cho nghe và được biết rằng có một thiên thạch rơi với tốc độ lớn vào khí quyển địa cầu, cháy sáng như một quả cầu lửa khổng lồ rồi phát nổ trên vùng trời ngoại ô Cát Lâm. Đá trời nổ bắn ra bức xạ đá bốn phía, tạo một trận mưa thiên thạch lớn. Có 3 viên rơi xuống đất, tạo thành một hố sâu, làm đất đá văng xa hơn 100 m. Viên lớn nhất nặng gần 1,8 tấn.

   Mao nghe xong, nhờ người đỡ ngồi dậy ra đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài xa, rồi trầm ngâm nói: "Trung Quốc có một thuyết gọi là thiên nhân cảm ứng, ngụ ý là nếu nhân gian sắp xảy ra một sự biến lớn thì thiên nhiên sẽ có những biểu hiện báo trước. Trời rung, đất chuyển, đá lớn từ trên không rơi xuống đó là điềm gở. Trong Tam Quốc diễn nghĩa, trước khi Gia Cát Lượng, Triệu Vân, Quan Công qua đời đều xảy ra các hiện tượng bất thường như sao rụng, đá rơi, gãy cột cờ".

   Đến ngày 28/7/1976, một trận động đất kinh hoàng xảy ra ở Đường Sơn làm chết hơn 240.000 người và 160.000 người bị thương.

   Không biết chuyện thiên thạch rơi và động đất có tác động gì đến suy nghĩ và sức khỏe của Mao Trạch Đông hay không nhưng đến ngày 9/9/1976, ông qua đời.

   Dư luận cho rằng 3 viên thiên thạch rơi báo hiệu Trung Quốc mất 3 nhân vật vĩ đại, đó là Tổng tư lệnh Chu Đức, Thủ tướng Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông (đều mất năm 1976).

   Từ Đông sang Tây đều có chiêm tinh học

   Rất nhiều người tìm đến xin ý kiến nhà chiêm tinh trước khi giải quyết những công việc quan trọng (ở Pháp có đến 10 triệu người xin tư vấn mỗi năm). Thậm chí nhiều nguyên thủ quốc gia cũng thường gặp gỡ nhà chiêm tinh trước những đại sự.

   Sử gia Plutarch ghi lại: Vào trước ngày 15/3/44 trước Công nguyên, đích thân Hoàng đế La Mã lúc đó là Julius Cesar đã mổ bụng một con vật để đoán vận hạn và thấy nó không có tim. Có nhà chiêm tinh cho là điềm xấu, khuyên ông nên ở nhà hôm đó. Nhưng Cesar không nghe, vẫn đến họp ở Thượng viện và bị ám sát.

   Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte trước khi tiến hành một chiến dịch quan trọng đều tìm đến để nghe lời khuyên của nhà tiên tri Normandi. Ông tin rằng mình có ngôi sao chiếu mệnh và khi nào nó tỏa sáng rực rỡ thì chắc chắn trận đánh sẽ thắng lợi huy hoàng.

   Ngay cả hiện nay, khi khoa học kỹ thuật phát triển, các nhà chiêm tinh vẫn được nhiều người tin tưởng. Gần đây, hai nhà chiêm tinh học ở Pháp đã tiết lộ là có ảnh hưởng đến các quyết định của các tổng thống Francois Mitterand và Charles de Gaulle. Ở Mỹ, tổng thống Ronald Reagan và vợ cũng tham khảo ý kiến các nhà chiêm tinh trước những vấn đề quốc gia đại sự.

   Trong số khách hàng quen biết của nhà chiêm tinh người Đức Eric Hanussen có những nhân vật nổi tiếng của phát xít Đức như Bộ trưởng Bộ tuyên truyền Goebbel, Thống chế cảnh sát Himmler và cả Quốc trưởng Hitler. Hanussen từng bị Hitler tống giam do tiết lộ dự báo về sự sụp đổ của phát xít Đức.

   Ở Anh, nữ hoàng Elizabeth I luôn giữ bên mình nhà chiêm tinh John Dee để giúp bà phác thảo tương lai. Thủ tướng Wilson Churchill cũng đã không ít lần cầu viện ý kiến của nhà chiêm tinh Barbara Harris. Thủ tướng Thatcher rất trọng dụng nhà chiêm tinh Magiory Ozz. Tương truyền bà này đã đoán đúng gần 100% về chính biến ở Nga năm 1991 và tương lai của Tổng thống Nga Boris Eltsin.

   Ở Đức, cựu Thủ tướng Helmut Kohl thường tham khảo ý kiến nhà chiêm tinh Reneta ở Hamburg khi có vấn đề trọng đại.

   Có những dự đoán của các nhà chiêm tinh được thực tế chứng minh là chính xác. Chẳng hạn Andre Barbault đã đoán trước vài tuần về cái chết của Stalin (năm 1953) và cho biết Liên Xô sẽ có những thay đổi quan trọng vào thời điểm 1989.

   Nhưng cũng có vô số dự đoán sai bét: Nhà chiêm tinh Jeane Dixon (Mỹ) cam đoan rằng Chủ tịch Cuba Phidel Castro sẽ bị mất chức vào năm 1970 và phải sống lưu vong. Dixon cũng tiên đoán Phó Tổng thống Mỹ Spiro Theodore Agnew sẽ còn thăng tiến nhưng sau đó ông này bị tù vì tham nhũng và trốn thuế





   Những tiếng gọi bí ẩn

     Một phụ nữ bước vào cửa hiệu, khi cô đang đi quanh góc nhà thì chợt nghe một giọng nói gọi tên cô 2 lần. Cô chạy lên phía trước nhưng không thấy ai, và lúc đó vang lên những tiếng ầm ầm. Cô quay trở lại góc nhà, nơi vừa đi qua thì thấy chiếc cột nhà đổ nằm đó và chao đèn trên bàn vỡ tan từng mảnh. Thì ra đã có một chiếc thùng phuy lăn từ trên xe tải xuống và làm đổ chiếc cột nhà. Cô đã thoát hiểm nhờ tiếng gọi bí ẩn.
   chuyện gì đây?

"Con người ta không hiếm khi nghe thấy một giọng nói nào đó như được cất lên từ bên ngoài. Và dù cố gắng tìm kiếm nơi phát ra giọng nói, họ cũng không thấy ai", ông Igor Vinokurov, chủ tịch Ban nghiên cứu những hiện tượng khó lý giải của Nga nói.

   Một câu chuyện khác ông ghi nhận được ở Nga như sau. Sau khi người mẹ qua đời được 2 tuần, cậu bé 13 tuổi tên là Alecxey đã sống ở nhà người bà con. Một thời gian sau, cậu trở về nhà mình, trong nhà không có ai cả. Cậu định bụng chuẩn bị bữa ăn. Tủ lạnh đặt ở gần cầu thang ngoài. Thế nhưng khi cậu đưa tay nắm cửa thì từ đâu có tiếng gọi vang lên, đúng là giọng nói nhẹ nhàng của mẹ đang gọi cậu. "Vâng, mẹ ơi", cậu bé đáp rồi chạy bổ vào phòng bà và chỉ thấy chiếc giường trống trơn nên đứng sững lại. Sau đó, cậu trở lại nhà bếp mà trống ngực đập thình thịch, rồi cậu quay lại cửa ở cầu thang thì tiếng kêu thảng thốt của người mẹ lại vang lên. Cậu bé không nhớ là đã trở lại phòng mẹ thế nào nữa. Ngay lúc đó bà hàng xóm sang và nói rằng, người ta đã phá bỏ hoàn toàn chiếc cầu thang này rồi vì nó bị lung lay. Cậu bé đã thoát khỏi nguy hiểm chết người.

   Trong số những hiện tượng về giọng nói bí ẩn, đôi khi đó là thông báo cụ thể về sự kiện sắp tới mà nguồn tin lại là giọng nói phát ra từ TV hoặc radio.

   Vào lúc gần trưa, một phụ nữ trẻ người Anh đang xem TV, trên màn hình vang lên lời thông báo về vụ nổ ở Fliksboro đã làm cho vài người bị chết. Không lâu sau đó, bạn bè của cô đến chơi và cô kể về tin này. Đến tối, họ xem phóng sự truyền từ nơi xảy ra tai nạn và kinh ngạc khi nghe thông báo tai nạn xảy ra vào buổi chiều. Quả thật, vụ nổ ở nhà máy hoá chất đã xảy ra vào lúc 16h35'. Các công trình của nhà máy hoàn toàn bị phá huỷ, khu dân cư, cửa hiệu và các xí nghiệp lân cận đều bị thiệt hại. Đã có 28 người bị chết, hàng trăm người bị thương và không hề có một tin tức nào được báo cáo vào lúc người phụ nữ nghe được thông báo cả.

   Một người dân ở Xamara là V.Grigoriev đã ở trong gara của mình suốt cả ngày. Vào lúc gần 1 giờ trưa thì radio thông báo về một tai nạn ôtô mà nạn nhân là một linh mục. Một chiếc xe của bưu điện đã đâm vào ông ta. Đến tối thì thông báo này được nhắc lại 2 lần. Ngày hôm sau Grigoriev đi đến nhà nghỉ và mãi đến chiều tối mới về, cả ngày anh không đọc báo, nghe đài hay xem TV. Khi đi xe taxi, người tài xế kể lại hôm qua anh ta chứng kiến vụ đụng độ đó. Theo lời anh thì sự việc xảy ra vào lúc 11 giờ đêm hôm trước. Grigoriev đã gọi điện đến đài phát thanh để hỏi về trường hợp này. Hoá ra, tin tức chỉ được phát vào lúc nửa đêm và phát lại vào buổi sáng.

   Theo các chuyên gia về thần giao cách cảm, những ảo ảnh về thính giác không phải lúc nào cũng là chứng hoang tưởng. Những giọng nói đoán định trước nguy cơ của hiểm họa sắp xảy ra có thể không phải là giọng nói của người quen, nhưng cũng có thể là của những người bà con hoặc người quen đã chết. Nếu như giọng nói là của người còn sống thì điều đó thường đến vào lúc mà người nghe đang ở trạng thái không tốt về thể chất hoặc cảm xúc - có thể là do bệnh tật, sự sợ hãi hay ước muốn được gặp ai đó. Đôi khi nó là tiềm thức và bên tai ta vang lên một cái tên như thể là lời kêu gọi sự giúp đỡ hoặc là sự cảm thông.

  




  Bí ẩn về điềm báo trong giấc mơ

   Vì sao báo mộng lại có thể vượt trước được cả không gian, thời gian? Cho đến nay, vẫn chưa có được lời giải thích hợp lý.

   Ngày 29/8/1893 tại Mỹ, phóng viên Samson của tờ báo “Hoàn Cầu” kết thúc công việc, nằm nghỉ trên sofa rồi ngủ luôn. 7 giờ sau tỉnh dậy, anh vẫn nhớ rõ mồn một những gì xảy ra trong giấc mơ. Anh ngồi ngay vào bàn làm việc và ghi lại tất cả: núi lửa Krakatoa phun mạnh ở gần đảo Java, dung nham và đá bùn cuốn một đám người ra biển… Samson viết xong, tiện tay ghi luôn 2 chữ “quan trọng” rồi ra về.

   Hôm sau tổng biên tập đến thấy trên bàn làm việc của Samson có một bài viết, cho rằng anh đã nhận được tin tối qua, lập tức đăng ngay vào mục “tin khẩn”. Mấy chục tờ báo cũng đăng theo. Vì là tin thất thiệt nên dư luận phản đối gay gắt và Samson bị mất việc.

   Tuy nhiên, chỉ mấy ngày sau đó, núi lửa Krakatoa quả nhiên hoạt động rất mạnh. Rất nhiều người thiệt mạng trong lần phun trào này. Giấc mơ đáng sợ của Samson trở thành hiện thực. Chuyện ngẫu nhiên như vậy đến nay vẫn không có lời giải thích thoả đáng.

   Trên thế giới, những chuyện báo mộng như vậy cũng không ít. Tổng thống Mỹ Kennedy nằm mơ thấy mình bị ám sát. Quả nhiên ông ra đã bị sát hại vào ngày 22/11/1963.

   Ngày 3/3/1974, ở ngoại ô Paris, một máy bay DC-10 của hãng hàng không Thổ Nhĩ Kỳ bị nạn. 346 người thiệt mạng. Trước khi xảy ra sự việc này, một nữ công dân Mỹ, Robins, đã biết trước sự việc. Ngày 16/2, bà ta nằm mơ thấy chuyện đó và đã báo trước “Máy bay DC-10 đến London sẽ gặp nạn vào tháng 3 hoặc tháng 5, mấy trăm người chết, không ai thoát”.

   Ngày 24/2, bà ta lại nằm mơ thấy rõ ràng sự việc: máy bay từ Paris đi London… tai nạn xảy ra trong rừng… một tuần nữa xảy ra. Lời dự báo của Robins được ghi âm và cục điều tra Liên bang gửi đến trực ban hàng không. Đáng tiếc là người ta đã không có biện pháp đề phòng nên tai nạn vẫn xảy ra.

   Ngược lại, có nhiều điều báo mộng đã giúp kịp thời thay đổi kế hoạch nên giảm được tổn thất và thương vong. Thí dụ như một giám đốc bệnh viện đã nằm mơ thấy sau năm 1972 sẽ có máy bay rơi xuống bên cạnh bệnh viện của ông. Ông đã áp dụng các biện pháp đề phòng. Ngày 7/2/1973, quả nhiên một máy bay chiến đấu phản lực đã rơi ngay cạnh phòng làm việc của ông. Vì đã có các biện pháp cấp cứu kịp thời nên giảm hẳn số thương vong. 

   Khoa học hiện đại đang đi sâu nghiên cứu giấc mộng, đã phát hiện được những chức năng liên tưởng, cấu tứ, gợi ý và sáng tạo của nó. Một số nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về khả năng truyền cảm thông tin, những nghiên cứu về mặt này sẽ có khả năng giải thích được hiện tượng gợi ý. Nhưng để giải thích hiện tượng báo mộng vẫn còn thiếu sức thuyết phục. Vì sao báo mộng lại có thể vượt trước được cả không gian, thời gian? Cho đến nay, vẫn chưa có được lời giải thích hợp lý.

  

 



  Bí ẩn những viên ngọc cổ Trung Hoa



      Khi khai quật nhiều ngôi mộ cổ ở Trung Quốc, các nhà khoa học ngạc nhiên thấy xác chết sau mấy nghìn năm vẫn nguyên vẹn. Họ cho rằng ngọc thạch, được cho vào rất nhiều trong quan tài, đã làm nên điều kỳ diệu đó.

   Khi nhận xét về thú sử dụng ngọc ở Trung Quốc, một nhà khảo cứu về kim hoàn ở phương Tây, tiến sĩ Alfred Doodan (Mỹ) đã viết: Người Trung Hoa cho rằng ngọc là vật quý, hội đủ 5 đức tính cơ bản của con người là nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng.

   Do đó ngọc được tôn sùng. Ngày xưa, chỉ những nhà quyền quý mới có được ngọc. Vua chúa dùng nó làm biểu tượng cho quyền lực, địa vị tối cao ( như ngọc tỷ - con dấu riêng của hoàng đế dùng đóng dưới các văn kiện quan trọng ). Có thời, dân thường không được dùng bạch ngọc làm của riêng, bởi nó chỉ được dùng làm ngọc tỷ, ngọc bội.

   Khoảng 300 năm trước Công nguyên, ở nước Sở, vào triều Lệ Vương, có Biện Hòa là một thường dân may mắn có được một viên ngọc thô ( chưa được trau chuốt ). Ông ta biết chắc đó là viên ngọc cực quý nên đi hiến cho vua để tỏ dạ trung thành. Lệ Vương nhìn thấy viên ngọc thô thiển, có ý xem thường, bèn bảo một tay thái giám mài thử xem thật giả. Tên thái giám sợ Biện Hòa có công dâng ngọc sẽ được sủng ái hơn mình nên bảo là đồ giả, khiến Biện Hòa bị chặt mất một chân.

   Lệ Vương chết, Vũ Vương nối ngôi. Biện Hòa lại xin vào dâng ngọc. Viên quan được vua sai thử ngọc có tư thù với ông nên lại tâu là đồ giả, khiến Biện Hòa bị chặt nốt chân kia. Quá uất hận, Biện Hòa ôm viên ngọc, lao đầu vào tường toan tự tử. Vũ Vương ngăn lại, đích thân xem xét viên ngọc và nhận ra nó cực kỳ quý giá. Nhà vua hối hận nhưng đã muộn, vì Biện Hòa đã tàn phế, máu của ông đã loang đỏ sân triều. Từ đó, viên ngọc quý này được gọi là “ngọc bích Biện Hòa”, viên ngọc đẫm máu trong lịch sử Trung Hoa.

   Còn có một loại ngọc rất kỳ bí, chỉ ở Trung Quốc mới có. Do ngọc chôn theo người chết, mà người phương Tây gọi là Grave Jade ( ngọc dưới mồ ). Theo niềm tin của người Trung Hoa, ngọc thạch có một tính năng siêu phàm: trị bệnh, giúp trường sinh bất lão, giữ xác chết mãi mãi nguyên vẹn, mang lại phúc lành...

   Trong các ngôi mộ cổ được khai quật gần đây ở miền trung Trung Quốc, người ta tìm thấy rất nhiều ngọc thạch. Có một điều hết sức lạ là ở những mộ có nhiều ngọc thạch chôn theo, xác chết vẫn còn nguyên vẹn dù đã hơn 2.000 năm.

   Chẳng hạn như trường hợp của hoàng tử Liêu Thân và vợ là Tôn Vãn thuộc triều Hán, đã được chôn ngót 2 thiên niên kỷ. Khi khai quật, những người chứng kiến đã vô cùng kinh ngạc bởi cả hai xác chết vẫn còn nguyên vẹn, chẳng khác gì các xác ướp trong hầm mộ của người Ai Cập cổ đại. Các thi thể chẳng hề được tẩm ướp bất cứ thứ gì, nhưng bên cạnh có rất nhiều ngọc. Sau khi nghiên cứu kỹ, các nhà khai quật cho rằng, chính ngọc thạch đã giữ được sự nguyên vẹn của thi hài.

   Một điều lạ nữa là những viên ngọc chôn một thời gian dài dưới mồ ấy sau khi đào lên có sự biến đổi khác thường: Bạch ngọc từ trong suốt trở nên trắng đục hơn, từ bên trong ửng lên các vân màu hồng, giống như những sợi chỉ máu. Cẩm thạch từ màu xanh lục biến thành sẫm hơn, ửng hồng như nhuộm với máu. Riêng hồng ngọc, hoàng ngọc, lam ngọc... màu sắc cũng sẫm thêm nhưng khi đặt dưới ánh sáng mặt trời hay ánh sáng đèn, chúng rực lên một thứ ánh sáng lung linh kỳ dị, như từ một cõi u minh nào đó. Người ta cho rằng, những viên ngọc đó đã thấm máu và tinh khí từ cơ thể người, hay đúng hơn là thấm hồn người chết. Do đó nó càng trở thành vô giá, cực kỳ linh thiêng.

   Ngọc còn được coi là giúp duy trì tuổi trẻ và sắc đẹp. Tương truyền, Từ Hy Thái hậu vẫn giữ được sự tươi trẻ, uy nghiêm khi sắp qua đời là nhờ có khả năng kỳ diệu của ngọc thạch.

   Từ Hy được một nhà sư Tây Tạng bí mật chỉ cho cách dùng ngọc để giúp làn da mãi tươi nhuận, dù già vẫn không có nếp nhăn: Dùng ngọc trai nấu nhừ, tán nhuyễn, pha với sữa của phụ nữ có con so rồi thoa lên mặt, lên da mỗi buổi sáng và tối. Và quả thực Từ Hy khi đã trên 60 tuổi vẫn có nhan sắc của một phụ nữ trẻ.

   Người ta cho rằng sự tươi trẻ đó một phần cũng nhờ hai viên bạch ngọc thuộc loại quý hiếm nhất, có kích cỡ bằng quả trứng mà thái hậu luôn mang theo người. Chính các Lạt Ma bảo đảm với Thái hậu rằng, khi nào bà còn giữ được hai viên bảo ngọc đó trong người thì sinh lực sẽ luôn dồi dào, đẩy lùi được mọi bệnh tật...

   Đúng hay sai về truyền thuyết trên, cho đến nay chưa ai chứng minh được. Nhưng người Trung Quốc ngày nay vẫn tin rằng ngọc thạch có nhiều khả năng kỳ lạ, huyền bí nên tiếp tục tôn sùng thứ bảo thạch đó và đem cái đam mê này truyền sang cho rất nhiều người trên thế giới.








  Bí ẩn về những người màu xanh da trời

    Nghe có vẻ lạ tai nhưng sự tồn tại của những người màu xanh da trời lại là sự thật, có điều số lượng rất ít. Cho tới nay, khoa học chỉ mới ghi nhận hiện tượng này trong một dòng họ.

   Vào những năm 1950, các bác sĩ ở Bệnh viện khu vực Lexinton (Kentucky, Mỹ) đã rất ngạc nhiên khi cấp cứu cho một bệnh nhân có tên là Benjamin. Họ không tài nào giải thích nổi tại sao nước da của cậu bé lại có màu xanh da trời. Các bác sĩ cho rằng có thể cậu đang trong tình trạng thiếu máu nghiêm trọng, nhưng các xét nghiệm cho thấy không phải như vậy.

   Các bác sĩ càng ngạc nhiên hơn khi nghe bà của Benjamin nói: "Các ông đã bao giờ nghe nói về dòng họ người xanh Fugate? Chúng tôi chính là hậu duệ đời thứ 6". Theo những tài liệu của bà cụ cung cấp, họ đã biết đến một dòng họ kỳ lạ nhất trong lịch sử nhân loại.

   Năm 1820 tại tiểu bang Kentucky, dư luận xôn xao bàn tán về một hiện tượng chưa từng có: Một gia đình có những người màu xanh da trời. Ông Martin Fugate, một người nhập cư gốc Pháp đến lập nghiệp tại khu đồi Troublesome Creek và lập gia đình với bà Elizabet Smith. Họ có 7 người con, trong đó 4 người có nước da màu của bầu trời. Những đứa trẻ lục nhân nhà Fugate đều phát triển hoàn toàn bình thường về trí tuệ và sức khỏe, hầu như không mắc bệnh tật gì. Sau này họ cũng lập gia đình, sinh con cái và sống khá thọ (80-90 tuổi). Các nhà nghiên cứu thời đó dự đoán rằng, hiện tượng người xanh có thể liên quan đến bệnh tim mạch hoặc rối loạn máu, nhưng không ai chỉ rõ được.

  

   Đi tìm lời giải đáp

   Vào những năm 1960, Madison Cawein, một nhà huyết học trẻ thuộc Học viện Ketucky đã quyết định đi tìm lời giải cho hiện tượng hiếm có này. Ông đã tới khu vực Troublesome Creek để lật lại hồ sơ và ghép nối những câu chuyện về dòng họ người xanh.

   Cawein đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của một nữ y tá có tên là Ruth Pendergrass, người nhiều năm trực tiếp theo dõi lục nhân. Bà đã vô tình phát hiện ra một phụ nữ xanh sống ở khu vực và thuyết phục người này đến cơ sở y tế để làm các xét nghiệm phục vụ việc nghiên cứu.

   Cawein đã gặp được người phụ nữ đó - một người trong dòng họ của Fugate. Ông phát hiện ra một điều thú vị, bà ta không hề mắc bệnh về tim mạch và rối loạn phổi như nhiều người đã nhận định.

   Sau khi đã loại bỏ sự liên quan giữa bệnh tim mạch, phổi... đối với màu da của người này, Cawein quyết định tập trung theo hướng rối loạn di truyền về máu. Ông bắt đầu cuộc tìm kiếm bằng cách xây dựng lại gia phả của dòng họ Fugate và phát hiện đời thứ 6 của dòng họ Fugate   có tới 13 người da xanh.

   Kết quả xét nghiệm máu cho thấy lượng methemoglobin (MetHb) cao là nguyên nhân tạo nên màu xanh cho da (vì methemoglobin có màu xanh). Hồng cầu là tế bào chứa nhiều ôxy nên cấu trúc của nó thường xuyên có nguy cơ bị ôxy hóa và rất nhạy cảm với các quá trình ôxy hóa. Do đó, hồng cầu rất dễ bị hủy hoại. Để tránh hiện tượng này, hồng cầu thường xuyên có quá trình tạo thành MetHb, đồng thời cũng thường xuyên khử MetHb thành Hb. Điều này bảo đảm cho lượng Methb máu ngoại vi luôn ở mức thấp. Một ngày, thường có khoảng 3% lượng Hemoglobin tự ôxy hóa thành Methb. Nhưng nồng độ Methb trong máu chỉ dưới 1%.

   Cawein cho rằng ở người xanh, sự rối loạn chuyển hóa này tạo ra tỷ lệ MetHb không bình thường. Cawein đã sử dụng phương pháp khác để điều chỉnh lại chuyển hóa MetHb. Ông đã tiêm methylene vào ven của một người xanh có tên là Patrick. Điều kỳ lạ đã xảy ra, chỉ sau vài phút, nước da màu xanh da trời của Patrick đã trở thành hồng hào như thường. 13 người tương tự của dòng họ Fugate đã được uống viên nhộng methylene và sau một thời gian, da của họ đã đổi màu.

   Bí ẩn về người xanh da trời đã được nhà huyết học Cawein khám phá là do rối loạn chuyển hóa MetHb và Hb trong máu. Đây là một rối loạn có tính di truyền, những người mắc chứng này hoàn toàn bình thường.

   Bà Luna Pacy, mẹ của cậu bé Benjamine kể trên, thuộc đời thứ 5 của dòng họ Fugate. Bà sống tới năm 84 tuổi và sinh được 13 người con có nước da màu xanh, trong đó người xanh cuối cùng là cậu bé Benjamine. Câu chuyện về những người xanh da trời từng được đưa lên show truyền hình đắt khách về những điều kỳ lạ của con người. Bí ẩn về dòng họ Fugate có nước da màu xanh da trời đã khép lại sau hơn một thế kỷ tồn tại.


 

  Chuyện ngài thống chế nhân từ

   Ðã mấy tháng liền dân chúng quanh vùng Vendée (thuộc nước Pháp) bàn tán cùng nhau không ngớt về một người vô cùng giàu có, nhân từ, điềm đạm, gương mẫu, khỏe mạnh và nhất là rất yêu thương con trẻ. Người ấy là thống chế Gilles de Rais, ông từ kinh đô về đây và sống trong tòa lâu đài Tiffanges. Mỗi buổi sáng cũng như mỗi buổi chiều, ông đều đi dạo một vòng quanh vùng. Dáng ông cao lớn oai vệ và luôn luôn nghiêm nghị, gặp ai ông cũng đưa tay chào với chiếc ba toong trên tay có nạm ngọc lóng lánh. Mỗi khi thấy bọn trẻ, ông thường dừng lại xoa đầu chúng, ngắm nghía chúng và không bao giờ quên cho chúng tiền để ăn quà. Ông thường âu yếm hỏi chúng có muốn sống trong lâu đài với ông không? Nơi mà đầy đủ các loại đàn, các loại đồ chơi, các vườn cây lạ với đủ thứ chim muông và nhất là đủ thứ đồ ăn. Ðứa nào cũng híp mắt gật đầu... Thống chế đã nghiêm túc nói rõ vấn đề này cho cha mẹ chúng trong vùng và ai cũng muốn gửi con mình cho ngài thống chế nuôi dạy. Thống chế Gilles De Rais đã thực hiện điều hứa đó và để có thể dạy dỗ các đứa trẻ có kết quả hơn, ông đã tìm kiếm các cô gái có học có tài để phụ giúp dạy dỗ các em về các lãnh vực ca hát, đàn, múa và học chữ.

   Kể từ đó, thỉnh thoảng người ta nghe tiếng ca, tiêng hát, đọc bài của các đứa trẻ phát ra từ các cửa nhỏ ở lâu đài. Các bậc cha mẹ có con gửi vào đây đều sung sướng, yên tâm và hãnh diện. Chỉ tội cho những người không có con để gửi đều cảm thấy đau buồn và thua thiệt...

 

   Ai cũng biết thống chế Gilles De Rais là một con người mực thước, nghiêm khắc

và việc dạy dỗ dĩ nhiên là ép vào khuôn khổ. Vì thế mặc dầu đã lâu không ai được dịp gặp lại con vào cả những ngày lễ, Tết nhưng ai cũng đều tự an ủi và hy vọng rằng mai sau con cái họ sẽ nên người. Họ chỉ biết tin con mỗi khi thống chế đi dạongang qua. Ông giơ tay lên và nói: "Ồ! Con bác ngoan lắm!" thế là họ yên tâm.

 

   Thống chế có 3 toà lâu đài đồ sộ, trang trí cực kỳ xa hoa nhưng không kém phần quái dị. Nhiều cây cối có thân uốn khúc như đang múa may bên các pho tượng của các vị thánh thần dữ tợn cạnh các hồn nước rêu phong sâu thẳm.

   Thế rồi, một đêm trăng sáng, khoảng 11 giờ khuya một người thợ rừng có việc phải đi qua tòa lâu đài bỗng nghe một tiếng thét vang lên... người thợ rừng kinh hãi chạy lại phía người đàn ông gù lưng vừa bò vừa thở, đến bên một mô đất rồi gục xuống. Dưới ánh trăng, người thợ rừng cúi sát xuống cạnh người gù thì thấy người ấy đã chết. Trên lưng ông ta máu chảy đầm đìa, hình như bị đâm nhiều nhát dao... Người gù chính là gia nhân độc nhất chuyên săn sóc cây cảnh trong tòa lâu đài của thống chế Gilles De Rais.

   Ngày hôm sau, xác chết biến mất. Một nỗi kinh sợ bao trùm vùng Vendée. Dân chúng sống gần tòa lâu đài bắt đầu lo lắng và bàn tán. Có những điều mà bấy lâu nhiều người nghi ngờ nhưng không dám hé răng... Có người nhất quyết rằng tai mình đã nghe rõ những tiếng rú thất thanh phát ra từ trong tòa lâu đài bí mật vào những đêm khuya thanh vắng và họ khẳng định đó là những tiếng hét đầy khủng khiếp chớ không phải tiếng cười hay tiếng hát...


   Hãy trở lại từ đầu, nghĩa là từ năm 1427, lúc bấy giờ Gilles De Rais là vị tướng được vua Charles đệ nhất vô cùng quý trọng và được phong làm thống tướng. Năm 1435 ông cáo bệnh xin trở về vùng Vendée và sống ẩn dật trong tòa lâu đài nổi tiếng Tiffanges. Tại đây ông tiêu phí của cải như đổ tiền qua cửa sổ. Ông còn có hai tòa lâu đài khác nữa là Machecoul và Chambtobe. Vợ ông là Catherine De Thouars và con gái là Marie. Thống chế là một người nghiêm nghị và đôi khi dữ tợn. Vợ con ông ít quan tâm đến, và việc gối chăn đối với bà vợ ông lại thường lạnh nhạt. Ông rất thích những gì có tính cánh kỳ bí, ma thuật và ghê rợn. Sống cạnh ông luôn luôn có hai phụ tá đắc lực đó là Henriet và Poitou, những người này cũng như ông đều có cuộc sống thật vô cùng bí hiểm khó có ai biết được...

   Từ khi xảy ra hiện tượng kỳ lạ về xác chết của người gù biến mất như đã nói trên, dân chúng trong vùng đã bắt đầu nghi ngờ và lo sợ. Cuối thu năm 1440, 12 phụ huynh mà con em họ đều gởi vào lâu đài đã đệ trình lên nhà vua một đơn thỉnh nguyện yêu cầu điều tra về đời sống các trẻ em ở trong đó. Nhưng không hiểu vì sao bức thư bị ém nhẹm. Trong khi đó tại lâu đài Machecoul một em bé đi ăn xin tình cờ trông thấy một cảnh tượng hãi hùng ngay giữa phòng đại sảnh đầy các thây ma của các con trai con gái, tuổi từ 10 đến 12. Em bé này vừa la khóc vừa chạy thục mạng ra khỏi lâu đài...

 

   TÊN SÁT NHÂN BỊ BẮT

  Khắp nơi dân chúng xôn xao bàn tán, phần lớn họ đều cho con vào tòa lâu đài nhờ thống chế nuôi nấng và dạy dỗ nhưng chẳng có ai thấy con mình trở về dù đã mấy năm rồi...

   Quận công Jean V ở Bretagne đã nghe báo cáo này từ lâu nhưng còn chần chờ, mãi tới khi nhà vua hạ lệnh phải đem nộp ngay thống chế Gilles De Rais thì ông này mới chịu ra tay.

   Trong khi đó các nhân chứng đều tụ tập cả trong văn phòng của Jean De Malstroit, giám mục ở Nantes và là quan tư pháp thượng thư tại tòa án Bretagner. Tất cả đều buộc tội Gilles De Rais là tên sát nhân ghê tởm nhất thế gian và yêu cầu thẳng tay trị tội hắn với bản án khủng khiếp nhất. Thế rồi quân đội và nhân viên điều tra đến các tòa lâu đài, lục soát khắp nơi, và tội ác ghê rợn nhất do tên sát nhân quái dị này đã được hoàn toàn đưa ra ánh sáng. Ngoài Gilles de Rais người ta còn bắt được đồng bọn trong đó nổi tiếng nhất là Henriet và Poitou.

 

   LỜI KHAI CỦA BỌN TỘI PHẠM

  Theo lời khai của Gilles De Rais thì hắn bị chứng bệnh loạn dâm và thích mùi máu. Mỗi đêm, trong tòa lâu đài hắn và đồng bọn quây quần lại để cùng nhau làm lễ tôn vinh sự tốt lành ở địa ngục. Hắn thường quỳ xuống nhận rượu thánh và nhìn say sưa các cái đầu trẻ em sắp đều, giữa nền phòng, những cái đầu sanh lét và bất động. Trước khi giết các đứa bé hắn thường vuốt ve các em thật lâu và hôn da thịt các em. Hắn khai đã giết hơn 400 trẻ em phần lớn từ 8 đến 12 tuổi. Số trẻ em bị chết hắn bổ sung bằng cách dụ dỗ con cái của các nhà dân mà hắn ghé thăm. Về sau trẻ em hiếm dần hắn nghĩ đến việc lôi kéo các em đi ăn xin hay các em lang thang ngoài đường. Các cô gái mà hắn đưa vào lâu đài để làm cô giáo cũng bị hắn giết không thương tiếc.

   Theo lời khai của hai tòng phạm là Henriet và Poitou thì hai tên này thường sốt sắng theo lệnh của Gilles De Rais. Sau khi tập trung các trẻ em lại cho Gilles De Rais tuyển chọn lấy một (thường là trẻ em khoảng 12 tuổi) thì hắn lùa số còn lại vào một phòng khác đóng kín cửa lại. Trong khi đó Gilles De Rais và bọn hắn làm lễ cầu đảo gọi hồn thánh thần còn các em bé thì bị cởi hết quần áo trói giăng tay chân trên một cái giường rộng để cho Gilles De Rais ngắm nghía, nói những câu đầy ma quái, vuốt tay chân mặt mũi em ra chiều thích thú, rồi hắn ra lệnh cho hai tên này giết em bé. Ðôi khi tự tay hắn giết. Sau đó hắn nằm co quắp, trần truồng xuống sàn nhà và ngủ cho tới sáng. Ðứa bé bị cắt cổ, cái đầu giữ lại cho đến sáng hôm sau, còn thân mình thì đem thiêu ngay trong lò sưởi của căn phòng ngầm trong tòa lâu đài. Sáng hôm sau cả bọn lại vuốt ve cái đầu lạnh ngắt rồi lại làm lễ cầu hồn.

   Ngài gù lo việc săn sóc cây cối trong lâu đài vì tò mò nên đã bị giết chết. Sau đó bọn chúng thủ tiêu xác. Ngoài ra một phù thủy đã giới thiệu cho Gilles De Rais một cô gái tên là Francois Prelati để phụ lực vào việc gọi hồn và thực hiện phép luyện đan nhưng công việc tiếp diễn mãi, công quỹ khô cạn mà chẳng có kết quả gì khả quan cả. Mỗi lần làm phép bọn họ thường kẻ những đường ngang dọc, những vòng tròn trên nền nhà. Trong mỗi vòng tròn có kẽ thập tự giá và những ký hiệu kỳ lạ của người Do Thái xưa cổ. Về sau sự việc bị bại lộ dần nên Gilles De Rais lo sợ ra lệnh đem hết xương cốt các em và thiếu nữ đốt ngay tại căn hầm của lâu đài Machecoul. Năm 1440, nhân các lễ thánh trong năm. Gilles De Rais lại ra lệnh giết một số lượng rất lớn các trai gái từ 16 đến 18. Ðây là những em bé đã đem về nuôi từ 5 năm nay. Sau đó, lại còn giết thêm nữa. Các xác bị chặt ra làm đôi và bày la liệt trên sàn của căn phòng lớn trong tòa lâu đài để làm lễ tôn vinh các thần thánh.

 

   GIỜ ÐỀN TỘI

   Phiên tòa kéo dài mấy ngày liên tục trước sự tham dự của hàng vạn dân chúng. Với các tội trạng rành rành đầy ghê tởm của bọn sát nhân, tòa tuyên án xử tử hình tên Gilles De Rais bằng hình thức treo lên giảo đài và thiêu sống. Còn hai tên ác ôn Henriet và Poitou cũng bị hình phạt tương tự. Những người sống trong lâu đài không nhúng tay vào vụ sát nhân thì bị mấy năm tù ở hoặc tha bổng tuỳ theo tội trạng liên can.

   Ðúng 11 giờ sáng ngày 26 tháng 10 năm 1440, dân chúng lũ lượt kéo nhau đến một khu đất rộng để xem tận mắt cuộc xử tội ba tên sát nhân mà đứng đầu là Gilles De Rais; tên sát nhân quái dị. Sau các lời cầu nguyện Gilles de Rais bước lên giảo đài. Người ta cột dây ở lưng để treo hắn lên giá cao và thòng lọng nới lỏng tròn vào cổ hắn. Dưới chân là đống củi lớn sẵn sàng được bén lửa. Hồi chuông báo tử và gọi hồn vang lên giục giã. Ngọn lửa được châm vào đống củi và bùng cháy hừng hực bốc lên bao lấy tên tử tội. Người ta nghe tiếng hắn hét thất thanh trong lửa và khói "ta sẽ trở lại thế gian này năm trăm năm sau... ta sẽ trở lại!" Sau đó hai phụ tá ác ôn Henriet và Poitou cũng lần lượt bị đưa lên giàn hỏa và bị đốt cháy thành than, kết thúc cuộc đời của những tên độc ác và tàn bạo... Ðó là chuyện có thật đã xảy ra cách đây 5 thế kỷ.



  


   Lỗ hổng thời gian’ và những vụ mất tích bí ẩn

   Thuyền trưởng Smith của tàu Titanic.

   Giới học giả chuyên nghiên cứu bí ẩn siêu nhiên ở châu Âu và Mỹ gần đây xôn xao về một số vụ mất tích - tái hiện một cách thần bí. Nhiều người cho rằng hiện tượng có liên quan đến “lỗ hổng thời gian”.

   Ngày 14/4/1912, con tàu thủy siêu cấp Titanic trong chuyến đi đầu tiên đã gặp nạn do va phải băng, khiến 1.500 người mất tích. Vậy mà vào giữa năm 1990 và 1991, tại khu vực gần núi băng Bắc Đại Tây Dương, người ta đã phát hiện và cứu sống hai nhân vật đã biến mất cùng con tàu Titanic gần 80 năm về trước.

   Ngày 24/9/1990, con tàu Foshogen đang đi trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương. Thuyền trưởng Karl đột nhiên phát hiện một bóng người từ vách núi. Qua kính viễn vọng, ông nhìn rõ một phụ nữ đang dùng tay ra hiệu cấp cứu. Người phụ nữ này mặc trang phục quý tộc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, toàn thân ướt sũng và rét run cầm cập.

   Khi được cứu lên tàu, trả lời câu hỏi của thủy thủ, cô nói: “Tôi tên là Wenni Kate, 29 tuổi, một hành khách trên con tàu Titanic. Khi tàu đắm, một con sóng lớn đánh giạt tôi lên núi băng này, thật may mắn là các ngài đã kịp cứu giúp”. Nghe câu trả lời đó, mọi người đều cảm thấy hết sức kỳ lạ và họ nghĩ rằng có lẽ do sốt cao, cô gái này đã nói nhảm. Kate được đưa đến bệnh viện để kiểm tra. Sức khỏe của cô không có gì đáng ngại ngoài việc cô quá sợ hãi do bị lạc nhiều ngày, thần kinh cũng không có dấu hiệu rối loạn. Các xét nghiệm về máu, tóc, cho thấy cô khoảng chừng 30 tuổi.

   Vậy là nảy sinh một vấn đề khó tin đến kinh người: Chẳng lẽ từ năm 1912 đến nay, trải qua gần 80 năm mà Kate không hề già đi chút nào? Thẩm tra, đối chiếu với bản danh sách hành khách trên tàu Titanic, người ta nhận thấy mọi nội dung đều trùng khớp với những gì Kate nói. Trong khi mọi người đang tranh luận thì sự việc thứ hai xảy ra.

   Ngày 9/8/1991, một tổ khảo sát khoa học hải dương trong khi khảo sát tại khu vực phía Tây Nam cách núi băng Bắc Đại Tây Dương chừng 387 km, đã phát hiện và cứu sống một người đàn ông 60 tuổi. Ông ta mặc bộ quần áo màu trắng, khá gọn gàng, rít sâu điếu thuốc. Không ai có thể nghĩ rằng đó chính là thuyền trưởng danh tiếng Smith của con tàu Titanic.

   Nhà hải dương học nổi tiếng, tiến sĩ Marwen Iderlan, sau khi cứu được Smith đã phát biểu trước báo chí rằng không thể có sự việc nào đáng kinh ngạc hơn. Người đàn ông này không thể là tên lừa đảo, ông ta đích thực là thuyền trưởng của con tàu Titanic, người cuối cùng chìm xuống biển cùng với con tàu . Khó tin hơn nữa là Smith đến nay đã 140 tuổi nhưng trên thực tế mới chỉ là một ông già 60 tuổi. Khi được cứu, ông một mực khẳng định rằng hôm đó là ngày 15/9/1912.

   Sau khi được cứu, ông được đưa đến Viện tâm thần Oslo (Nauy) để chữa trị. Nhà tâm lý học Jale Halant đã tiến hành hàng loạt thử nghiệm và kết quả là Smith hoàn toàn bình thường. Ngày 18/9/1991, trong một đoạn tin vắn, Halant khẳng định, người được cứu đích xác là thuyền trưởng Smith vì ngay việc đối chiếu vân tay cũng đã cho thấy điều đó.

   Sự việc cần được giải thích rõ ràng. Một số cơ quan hải dương Âu - Mỹ cho rằng thuyền trưởng Smith và hành khách Kate đã bị rơi vào “hiện tượng mất tích - tái hiện xuyên thời gian”.


   800 lính Anh mất tích trong mây

   Trong Đại chiến Thế giới lần thứ nhất, vào ngày 21/8/1915, hơn 800 lính thuộc Trung đoàn Norfolk 5 của quân đội Anh được lệnh cơ động lên một ngọn núi cao thuộc vùng Dardanelles, Thổ Nhĩ Kỳ. Theo lời kể của các nhân chứng, có một đám mây lớn bay sà xuống và bao phủ lên đoàn quân, lúc đó đang tiến vào thung lũng. Đội quân càng lên cao thì càng chìm dần vào trong khối mây mờ.

   Khi người cuối cùng khuất hẳn, cả khối mây đã bốc lên cao và biến mất, người ta không thấy bất kỳ người lính nào bước ra khỏi đám mây đã bay đi đó. Từng ngọn cây, bụi rậm trên đỉnh núi đều có thể nhìn rõ, nhưng một đội quân hơn 800 người đã mất tích hoàn toàn. Khi đó, 22 người lính của New Zealand cũng đang tập cùng trận địa với đội quân này, trên một ngọn đồi nhỏ khác cách đó khoảng 600 m. Họ đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng bí hiểm trên.

   Có giả thuyết cho rằng toàn bộ đội quân đã bị lực lượng đặc nhiệm của Thổ Nhĩ Kỳ bắt làm tù binh. Tuy nhiên, sau chiến tranh, phía Thổ Nhĩ Kỳ kiên quyết khẳng định rằng họ chưa từng nhìn thấy đội quân này. 800 người lính đã bị mất tích không nằm trong danh sách những lính Anh bị tử trận, đồng thời cũng không có trong danh sách tù binh chiến tranh được Thổ Nhĩ Kỳ trao trả sau khi chiến tranh kết thúc.

   Ở Trung Quốc năm 1945, một đoàn tàu chở hàng trăm khách từ Quảng Đông đi Thượng Hải đã biến mất khỏi hành trình khi gần đến ga cuối, không để lại bất kỳ một dấu tích nhỏ nào.

  

   Quan điểm của các học giả

   Một số người cho rằng lỗ hổng thời gian thực chất là thế giới phản vật chất đang tồn tại trong vũ trụ. Họ dựa vào công thức tổng năng lượng vật chất của Einstein, theo đó tổng năng lượng vật chất có hai giá trị là chính và phụ.  Vậy khi giá trị phụ xuất hiện, chúng ta cần phải làm thế nào? Nhận thức nó ra sao? Một số học giả liền đưa nó vào mối liên hệ với thế giới phản vật chất. Hiện nay, chúng ta mới hiểu biết chưa đầy một nửa vũ trụ chúng ta đang sống, là phạm vi thế giới vật chất, còn nửa kia là một hệ thống tạo thành từ phản vật chất.

   Hai bộ phận này tiếp cận với nhau dưới tác động qua lại của lực hấp dẫn. Khi tiếp cận đến một mức độ nhất định, tác dụng “đổ vỡ” do thế giới vật chất và phản vật chất sinh ra sẽ tạo ra một nguồn năng lượng vô cùng lớn, tạo thành một áp lực tách đôi hai hệ thống. Theo đó, có thể thấy rằng mất tích chính là hiện tượng phát sinh khi hai hệ thống vật chất và phản vật chất tiếp cận ở mức độ cao nhất, sinh ra năng lượng tạo nên áp lực phân tách. Khi hiện tượng “đổ vỡ” kết thúc, trường lực hấp dẫn trở lại trạng thái ban đầu, hiện tượng tái hiện xảy ra.

   Trong cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học, nhiều giả thuyết khác cũng được đưa ra. Một trong số đó là thuyết “thời gian đứng lại”. Thế giới vật chất sau khi tiến vào lỗ hổng thời gian đồng nghĩa với việc mất tích, và từ đó đi ra cũng có nghĩa là được tái hiện. Như vậy, lỗ hổng thời gian và trái đất không cùng một hệ thống, và thời gian trong “lỗ hổng” là tương đối tĩnh. Do đó dù có mất tích 3-5 năm hay vài chục năm đi nữa, người ta sẽ không có gì thay đổi so với lúc ban đầu.

   Giả thuyết thứ hai được đưa ra là thuyết “thời gian ngược”, cho rằng thời gian trong lỗ hổng thời gian là quay ngược so với bình thường. Người mất tích sau khi rơi vào đó có khả năng sẽ quay ngược về quá khứ. Tuy nhiên, khi thời gian quay ngược một lần nữa, người này lại được đưa trở về thời điểm họ bị mất tích, kết quả là xảy ra hiện tượng tái hiện thần bí.

   Trong thuyết thứ ba “đóng cửa thời gian”, lỗ hổng thời gian là hiện tượng tồn tại khách quan trong thế giới vật chất, không nhìn thấy và cũng không thể sờ thấy. Đối với thế giới vật chất mà con người đang tồn tại, nó vừa đóng lại vừa mở. Thỉnh thoảng khi nó mở ra một lần, sẽ có hiện tượng mất tích; mở thêm một lần nữa, người mất tích tái hiện.

   Trước mắt, quanh vấn đề “lỗ hổng thời gian” vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Chưa một học thuyết nào đủ sức thuyết phục vì chưa đưa ra được những chứng cứ xác thực. Hiện tượng “mất tích - tái hiện” vẫn còn là bí ẩn đang chờ con người khám phá...

 

   (Theo Sức Khoẻ & Đời Sống)

 


  

  

  Lời nguyền của "cậu bé khóc"

   Thảm kịch và bất hạnh vẫn tiếp tục bao quanh một bức chân dung kỳ lạ xuất hiện trên khắp nước Anh và trên thế giới trong hơn 20 năm qua.


   Bức tranh do họa sĩ Tây Ban Nha Bruno Amadio vẽ được sản xuất hàng loạt và biết đến với cái tên "cậu bé khóc". Nó trở nên rất phổ biến và được nhiều người mua ở Anh trong những năm 80.

   Với người xem tranh, đây là một bức tranh khá bình thường, dù có gì đó phảng phất buồn và u ám. Tuy nhiên những người sở hữu bản copy của nó cho biết khi nhìn vào khuôn mặt của “cậu bé khóc”, họ luôn có cảm giác sợ hãi và đau ốm.

   Câu chuyện bắt đầu vào năm 1985 khi các tờ báo ở Anh đưa tin về hàng loạt các vụ cháy nhà bí ẩn. Điều mà những người lính cứu hỏa thấy lạ lùng và không thể giải thích nổi là trong tất cả các vụ cháy, mọi thứ trong nhà đều cháy rụi, chỉ có duy nhất bức tranh “cậu bé khóc” vẫn không hề bị sứt mẻ tẹo nào.

   Rất nhiều người đã gọi cho các tờ báo để khẳng định rằng hỏa hoạn xảy ra sau khi họ mua “cậu bé khóc “ về.

   Sự thật về nguồn gốc của bức tranh vẫn còn là điều bí ẩn. Một số nguồn tin cho hay người họa sĩ đã ngược đãi cậu bé trong bức tranh - một em bé mồ côi.

   Một số người khác lại nói rằng cha mẹ cậu bé chết trong một trận hỏa hoạn. Cậu bé trở thành kẻ mồ côi và giờ muốn gây ra các vụ hỏa hoạn để trả thù những người khác đã khiến cậu trở thành trẻ mồ côi.

   Một số nhà tâm linh học lại lý giải rằng linh hồn của cậu bé bị mắc kẹt bên trong bức tranh, chính vì thế mà nó phải phóng hỏa để được tự do. Nhiều người lại nói rằng họa sĩ đã ký “hợp đồng tội lỗi” với Quỷ Xa Tăng nhằm giúp bán các bức tranh của ông.

    Các tờ báo vẫn tiếp tục đưa tin về câu chuyện ma quái này khiến cho dư luận tỏ ra vô cùng sợ hãi. Tháng 10/1985, người ta thông báo tổ chức đốt tất cả các bức tranh “cậu bé khóc”. Đến cuối tháng 10, đã có hàng nghìn bức tranh bị tiêu hủy dưới sự giám sát của cục cứu hỏa.

   Tuy nhiên, sự việc không chỉ dừng lại ở đây. Rất nhiều người vẫn sở hữu “cậu bé khóc” và đôi khi người ta vẫn thấy xuất hiện tin tức về các vụ cháy.

   Các phương tiện truyền thông cố gắng trấn tĩnh người dân và giải thích rằng thỉnh thoảng bức tranh mới thoát khỏi hỏa hoạn. Một người phụ nữ cho biết cô đã cố đốt bức tranh của mình nhưng mọi nỗ lực đều thất bại.

   Có một số quan điểm lại cho rằng bức tranh chẳng hề đem điềm gở tẹo nào. Nó đem lại may mắn cho người xứng đáng. Một người đàn ông kể rằng ông bất ngờ thắng bạc sau khi phục chế được bức tranh đang xuống cấp.

   Thậm chí kể cả khi bức tranh được xem là vật đem lại may mắn cho một số người. Hầu hết chủ nhân của “cậu bé khóc” đều đổ cho bức tranh gây ra ốm đau và rủi ro.

   Nhiều bản copy của “cậu bé khóc” đã xuất hiện bên ngoài nước Anh và người ta không rõ có bao nhiêu người vẫn đang sở hữu bức tranh và những tai họa mà nó gây ra.



 




 

10 SỰ KIỆN KHẢO CỔ HỌC 2007.pdf 10 SỰ KIỆN KHẢO CỔ HỌC 2007.pdf
Size : 507.132 Kb
Type : pdf
BÍ ẨN VỀ CÁC XÁC ƯỚP.pdf BÍ ẨN VỀ CÁC XÁC ƯỚP.pdf
Size : 273.669 Kb
Type : pdf
NHỮNG BÍ ẨN.pdf NHỮNG BÍ ẨN.pdf
Size : 617.065 Kb
Type : pdf
BỨC TRANH QUÁI DỊ.pdf BỨC TRANH QUÁI DỊ.pdf
Size : 143.571 Kb
Type : pdf
CHƯƠNG ĐEN TỐI CỦA Y HỌC MỸ.pdf CHƯƠNG ĐEN TỐI CỦA Y HỌC MỸ.pdf
Size : 114.995 Kb
Type : pdf
10 LÂU ĐÀI ĐẸP NHẤT CHÂU ÂU.pdf 10 LÂU ĐÀI ĐẸP NHẤT CHÂU ÂU.pdf
Size : 461.575 Kb
Type : pdf
ĂN KIÊNG VÀ CHẾT.pdf ĂN KIÊNG VÀ CHẾT.pdf
Size : 82.427 Kb
Type : pdf
Make a Free Website with Yola.